Những phụ nữ “khác” sống ở đâu đó giữa truyền thống và truyền thông

emma-watson-tim-walker-march-2017-ss09
Emma Watson lộ ngực trong một bức ảnh gây tranh cãi trên trang bìa số tháng 3 của tạp chí Vanity Fair. Nguồn: Tim Walker/Vanity Fair

Nhìn cuộc sống theo quan điểm của nam giới, phụ nữ ngày nay hay “lên gân” về các giá trị như tự do khoáng đạt, đấu tranh thoát khỏi kìm kẹp để được là chính mình. Tuy nhiên kết quả thường thấy là phụ nữ nhảy từ thái cực “truyền thống” sang “truyền thông” và trở thành những khuôn mặt na ná nhau, thiếu sự đa dạng, khác biệt.

Trước khi phê bình, ta cũng phải thừa nhận rằng phụ nữ đang bị đặt vào thế khó. Nói một cách nôm na, sống trong thời đại này, phụ nữ như cô gái Hồi giáo vừa đấu tranh giành được quyền bỏ mạng che mặt ra cho dễ thở một chút, chưa kịp định thần, định nghĩa mình là ai thì khuôn mặt của cô đã bị lọt ngay vào ống kính camera lan tràn và thô thiển của phương Tây.

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa

Chúng ta đang sống trong thời đại của truyền hình thực tế, của mạng xã hội, của truyền thông và ống kính máy quay có mặt ở khắp mọi nơi. Truyền thông quảng bá cho những cái nhỏ bé. Một sáng chủ nhật, tôi đi bộ quanh Hồ Gươm và tình cờ nhìn thấy một đôi bạn đang chụm đầu vào nhau cùng dán mắt vào máy ảnh. Họ nhìn gì mà chăm chú thế? Tôi nhìn theo và nhận ra họ đang cố gắng chụp ảnh bàn chân mình.

Bàn chân tưởng chừng rất bình thường, nhưng khi được chụp lại bằng máy ảnh, những kỹ thuật về màu sắc, khuôn hình… sẽ làm cho hình ảnh đẹp hơn, quan trọng hơn. Và nếu đôi bạn về nhà đưa hình lên Facebook và được nhiều bạn bè “like”, thì đó có lẽ là mục đích cuối cùng của họ: chụp lại hiện thực không hẳn vì bản thân hiện thực, mà vì cảm giác mình có tài và có người hâm mộ.

Trong những thời kỳ có nhiều cấm đoán, việc soi rọi vào những con người, sự vật sự việc bình dị là một tâm thức nhân văn. Nó giúp đưa ra ánh sáng những bất công, giúp nâng vị thế của những người thấp cổ bé họng, giúp con người khám phá ra những bí mật quan trọng của tự nhiên…

Tuy nhiên, dường như chúng ta đang sống trong một thời kỳ quá độ, như một đứa trẻ mới lớn vừa nếm mùi tự do, chưa đủ khả năng sử dụng sự tự do của mình, nên có xu hướng nhảy từ thái cực này sang thái cực ngược lại. Nói một cách khác, nguy cơ của thời đại ngày nay là quan trọng hóa những cái thực sự…quá…nhỏ bé.

Phụ nữ, tầng lớp thấp cổ bé họng bị áp bức bấy lâu, càng khó tránh khỏi cạm bẫy của truyền thông. Cô gái nào cũng có những bức ảnh avatar đẹp lung linh để tự khẳng định mình. Đẹp để lên hình, rồi xem hình của mình để cảm thấy hưng phấn và cố gắng đẹp hơn. Nhu cầu lên hình phổ biến đến mức khuôn mặt của các cô đều đẹp, nhưng là đẹp theo một kiểu giống nhau.

Giống nhau ở chỗ đấy là vẻ đẹp có thể lên hình. Cuộc sống mất đi sự kỳ bí khi con người sống quá duy lý và tin rằng mọi cái đều có thể đưa ra ánh sáng. Có những cái không dễ dàng, thậm chí không bao giờ, có thể nắm bắt hay “chụp” lại được thì sao? Càng cố gắng theo đuổi thì chúng ta chỉ càng tìm thấy phiên bản của chính mình, chứ không phải một hiện thực khách quan lớn hơn nào đó? Huống hồ trình độ công nghệ và hình ảnh của phương Tây có giới hạn và rất dễ được dùng để phục vụ cho những kỳ thị chủng tộc như đề cao một kiểu đẹp nhất định như da trắng, mắt to, mũi cao…

Một ví dụ về kiểu đẹp của phụ nữ phương Tây được tung hô trên truyền thông mà nhiều phụ nữ trên thế giới đang cố gắng theo đuổi là bức ảnh khoe ngực gây tranh cãi gần đây của nữ diễn viên từng là nhí nhưng nay đã 26 tuổi của loạt phim Harry Potter nổi tiếng, Emma Watson.

Bức ảnh rất đẹp, hấp dẫn và chuyên nghiệp trên trang bìa số tháng 3 của tạp chí Vanity Fair chụp “cô phù thủy” Anh Quốc mặc trang phục màu trắng nửa kín nửa hở để tôn vinh bộ ngực và cơ thể gợi cảm của cô.

Bức ảnh này sẽ chỉ như bao bức ảnh gợi cảm câu khách khác của các tạp chí thời trang và giới “showbiz” nếu Emma Watson không phải là một “nhà nữ quyền” (“feminist”).

Cựu nữ sinh ngành Văn học Anh của Trường Đại học Brown danh tiếng chính là Đại sứ thiện chí của Liên hợp quốc vận động cho vấn đề bình đẳng giới và quyền của phụ nữ. Năm 2014, Emma Watson có một bài phát biểu khá nổi tiếng cho Chiến dịch HeForShe kêu gọi nam giới đứng lên đấu tranh chống bất bình đẳng giới. Trước khi được bổ nhiệm, cô cũng đã tham gia vận động cho các em gái được đến trường ở Bangladesh và Zambia.

Về danh nghĩa của Emma thì là như vậy, nhưng nữ quyền là gì mà lại phản đối bức ảnh khoe ngực được chụp khá nghệ thuật của cô? Những ai quen thuộc với phản biện của nữ quyền đều biết rằng có một vấn đề quan trọng trong nữ quyền là hiện tượng đồ vật hóa cơ thể phụ nữ.

Trong xã hội gia trưởng truyền thống, người phụ nữ dễ trở thành công cụ hay biểu tượng phục vụ nhu cầu tình dục của đàn ông. Tổng thể danh tính phức tạp đa chiều của một con người bị tối giản thành một món đồ dẹt lét, một chiều, tùy tay người thao túng.

Trong văn hóa đại chúng hiện nay, những sản phẩm khiêu dâm, hoặc những hình ảnh quảng cáo phơi bày cơ thể nữ lý tưởng, không tưởng, là những ví dụ về hiện tượng này. Kể cả khi những sản phẩm này có giá trị kỹ thuật hoặc nghệ thuật, thì các giá trị này thường thể hiện nhân sinh quan được đúc kết qua nhiều năm của nam giới.

Cái khó và cũng là giới hạn của nữ quyền do các nữ minh tinh đại diện – đặc biệt là những nữ ca sĩ, diễn viên da trắng, xinh đẹp, có điều kiện ở các nước phương Tây – là đặc thù công việc của họ. Họ có thể thực lòng đồng cảm và đấu tranh cho những người phụ nữ đói khổ bị hiếp dâm, bị bạo hành ở đâu đó trên thế giới nhưng khi cần phải quay phim chụp ảnh, họ vẫn sẽ phải đáp ứng yêu cầu của công việc.

Về phần mình, Emma Watson có câu trả lời cho những người chỉ trích cô. Trong một cuộc phỏng vấn với Reuters, cô phản biện: “Nữ quyền là trao cho phụ nữ quyền lựa chọn. Nữ quyền không phải là một cái gậy dùng để đánh những người phụ nữ khác. Nữ quyền là tự do, là giải phóng, là bình đẳng. Tôi thực sự không hiểu vú của tôi thì liên quan gì ở đây. Vấn đề này hết sức khó hiểu.”

Nữ quyền là khác biệt

Nhiều phụ nữ Việt Nam, trong quá trình thể hiện sự tự tin và hưng phấn của mình, nếu gặp phải chỉ trích, đặc biệt từ những người phụ nữ khác, cũng thường đưa ra luận điểm này: rằng họ có quyền, rằng những người phụ nữ khác chỉ đang ghen tị với họ… Hiểu như Emma Watson quả thật không sai. Đúng, nữ quyền là tự do, là giải phóng, là bình đẳng. Và phụ nữ đặc biệt không nên vì đố kỵ mà “ném đá” nhau.

Tuy nhiên, hiểu như vậy là chưa sâu sắc. Có một giá trị khác mà phụ nữ nên nhấn mạnh khi nói về nữ quyền bên cạnh tự do, bình đẳng. Đó là sự khác biệt. Emma Watson có thể tự do là bất cứ ai mà cô muốn, cô có thể thể hiện sự bình đẳng trong tình dục với đàn ông bằng việc chủ động chụp ảnh khỏa thân của mình, nhưng nếu làm như vậy, cô chưa đặc sắc và khác biệt. Cô sẽ giống đàn ông, và giống nhiều phụ nữ phương Tây da trắng, xinh đẹp, hiểu biết và thành công khác – những người mà khi nói đến tự do là thường chỉ hình dung ra tự do tình dục.

Còn những loại tự do khác thì sao? Ví dụ như tự do không thích bị chụp ảnh, tự do không thích tình dục? Tự do của một phụ nữ khi nghĩ đến hình ảnh khiêu dâm là nghĩ đến tổn thương của việc bị lạm dụng trong quá khứ? Hay thậm chí những phụ nữ bị ung thư vú, đã phải cắt bỏ hai bên vú nên không cần ai phải nhắc cho họ nhớ là cơ thể họ không còn nguyên vẹn nữa?

Những giá trị nữ mà Emma Watson quảng bá thông qua bức ảnh gây tranh cãi kia là những giá trị của văn hóa phương Tây. Trong một thời đại mà phương Tây thống trị, thì những cái nhỏ hơn, khác biệt, đại diện cho các nền văn hóa đa dạng ở các phương trời khác nên được chú trọng.

Xét trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành, ta khó có thể tìm thấy những khuôn mặt phụ nữ thực sự khác biệt thông qua truyền thông. Thứ nhất là vì số lượng quá nhiều. Có hàng tỉ phủ nữ, hàng tỉ con người hàng ngày sống cuộc sống thú vị của riêng họ, chứ không phải chỉ các ngôi sao mới có cuộc sống thú vị. Thứ hai, về mặt bản chất, như tôi nói ở trên, có những cái đẹp không thích lên hình, không thể lên hình, không bao giờ lên hình, chỉ đơn giản vì chúng là những cái đẹp “khác” hình. Nhưng không lên hình không có nghĩa là không tồn tại. Rất nhiều người phụ nữ mạnh mẽ, khác biệt tồn tại ở đâu đó giữa truyền thống và truyền thông. Họ đấu tranh chống lại mạng che mặt nhưng họ không phải là diễn viên.

Thất bại cay đắng của phụ nữ và khuyến cáo về văn hóa mạng

1
Bà Hillary Clinton trong thời gian tranh cử. Ảnh: Trang Facebook của bà Clinton, www.facebook.com/hillaryclinton/

Thất bại của một nữ chính khách ở Mỹ đã chỉ ra rằng hành trình tìm kiếm sự bình đẳng nam nữ vẫn còn rất gian nan, đặc biệt là trên mạng.

Nhiều phụ nữ đã khóc khi nghe tin bà Hillary Clinton thất bại trước ông Donald Trump trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng Mỹ ngày 8 tháng 11 vừa qua.

Không chỉ ở Mỹ mà phụ nữ ở nhiều nơi trên thế giới đã rất buồn và tức giận vì thất bại của bà Clinton là một thất bại cay đắng. Cuộc đối đầu giữa bà và ông Trump diễn ra cứ như hai người là nhân vật chính diện và phản diện trong một bộ phim.

Cái cay đắng trong thất bại của bà Clinton nằm ở chỗ bà là người phụ nữ đầu tiên được một đảng quan trọng lựa chọn để tranh cử tổng thống Mỹ, và người thắng bà không ai khác lại là một người đàn ông nổi tiếng là coi thường phụ nữ (bên cạnh những quan điểm bảo thủ khác), một người mà nhà báo David Remnick của tạp chí The New Yorker gọi là “sự thô thiển không có giới hạn”.

Xét ở một số điểm liên quan đến phụ nữ, tỉ phú bất động sản Donald Trump có ba đời vợ và được nhiều người biết đến trong vai trò nhà tổ chức các cuộc thi hoa hậu lớn (ông Trump đã bán Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ cho tập đoàn WME/IMG vào tháng 9 năm ngoái khi bắt đầu tranh cử). Ông Trump thường hay xúc phạm phụ nữ bằng những bình phẩm phản cảm về hình thức của họ. Trong một đoạn phim bị rò rỉ trong thời gian tranh cử, ông Trump tục tĩu khoe khoang về việc có thể sờ soạng phụ nữ thỏa mái chỉ đơn giản vì ông là người nổi tiếng. Sau đó nhiều phụ nữ đã lên tiếng tố cáo ông Trump từng quấy rối hay tấn công tình dục họ.

Dù không hoàn hảo, bà Clinton là một chính trị gia có năng lực và xứng đáng với vị trí tổng thống Mỹ hơn ông Trump. Chiến thắng của bà đã có thể đem lại niềm cảm hứng lớn cho phụ nữ khắp nơi trên thế giới. Thế nhưng bà vẫn thất bại. Mặc dù có nhiều nguyên nhân giải thích chiến thắng của ông Trump (ví dụ: đa số người Mỹ da trắng ủng hộ ông Trump vì ông Trump hứa sẽ mạnh tay với người nhập cư, củng cố an ninh biên giới và xem xét lại các hiệp định, cam kết quốc tế của Mỹ để bảo vệ nền kinh tế Mỹ), kết quả của cuộc bầu cử vẫn chỉ ra một điểm mấu chốt: Sau khi bầu một tổng thống da đen đầu tiên trong lịch sử, nước Mỹ vẫn chưa đưa nổi một phụ nữ lên để phần nào bù đắp cho lịch sử bất bình đẳng giới.

Có thể nói cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ là một ví dụ về sự thất bại của nữ quyền. Đối với những người tự cho là “cấp tiến” ở Mỹ, một việc thực sự cấp tiến là bầu một người phụ nữ đầu tiên lên làm tổng thống không quan trọng bằng những bất đồng chính trị của họ đối với bà Clinton (với những quan điểm như ủng hộ cuộc chiến của Mỹ tại Irắc, bà bị cho là quá bảo thủ, hiếu chiến). Còn đối với hơn nửa số phụ nữ da trắng đã bầu cho ông Trump thay vì bà Clinton, một người phụ nữ như họ, thì hành động của họ được xem là một sự phản bội đối với phụ nữ nói chung.

Ở mức độ cá nhân, tôi cảm nhận được rất rõ hai yếu tố, một thiên về lý trí, một thiên về tình cảm làm suy yếu phong trào giải phóng phụ nữ hiện nay. Ví dụ, khi tôi nói chuyện với các bạn trai nước ngoài về chính trị Mỹ và những vấn đề khác, họ thường đưa ra luận điểm: Bây giờ nam nữ đã bình đẳng rồi, đặc biệt trong suy nghĩ của những người có học thức như họ, thì làm gì có chuyện họ kỳ thị phụ nữ nữa. Với luận điểm này, tôi chỉ hỏi: Có thật như vậy không? Có lẽ những người đàn ông “cấp tiến” này đang đánh giá quá cao sự khách quan của mình, vì nếu nam nữ đã bình đẳng rồi, sao đến tận bây giờ, nước Mỹ vẫn chưa có một nữ tổng thống?

Luận điểm thứ hai tôi thường nghe khi chuyện trò với phụ nữ Việt Nam. Mỗi khi tôi phê phán những bất bình đẳng nam nữ và tư duy gia trưởng, các bạn gái của tôi thường phản ứng: Nhưng mình không ghét đàn ông! Có vẻ phụ nữ rất sợ trở thành những bà cô già xấu xí, cay nghiệt, hận đàn ông nên rất cẩn thận trong việc chứng tỏ rằng mình không ghét đàn ông. Thực ra những người phụ nữ đấu tranh cho bình đẳng giới không ghét cá nhân người đàn ông này hay người đàn ông khác. Cái họ làm chỉ đơn giản là phê phán bất công trong xã hội. Năng lực phê phán này là cần thiết và liên quan đến trí tuệ, không phải là cảm xúc thù địch cá nhân, mặc dù đúng là nếu một người đàn ông nào đó có những suy nghĩ gia trưởng ảnh hưởng đến tôi thì tất nhiên là tôi không thể thích anh ta.

Ngày nay, cả nam và nữ, đặc biệt là các bạn trẻ, thường tự tin, chủ quan cho rằng chúng ta đang sống trong một môi trường trung tính, bình đẳng. Họ không hiểu rằng lịch sử bất bình đẳng giới đã kéo dài hàng nghìn năm và đã ăn sâu vào tư tưởng của con người, còn phong trào giải phóng và những giá trị mới về phụ nữ chỉ mới hình thành một cách có hệ thống trong khoảng hai thế kỷ gần đây.

Sự tự tin về mặt trí tuệ, thường thấy ở nam, rằng mình đã khách quan lắm rồi, và cái tôi tạm gọi là tình yêu vô điều kiện, thường thấy ở nữ, dành cho đàn ông, gặp nhau trong một môi trường lý tưởng: mạng Internet. Khi luồng tư tưởng và cảm xúc này gặp nhau trên mạng, môi trường mạng rất dễ trở thành một môi trường tưởng chừng trong sáng, trung tính, khách quan, nhưng nếu không cẩn thận thì sẽ góp phần xí xóa những ranh giới đạo đức, đúng sai, cổ xúy cho chủ nghĩa tương đối thô thiển, và tiếp tay cho bất công.

Thật vậy, chiến dịch tranh cử của ông Trump được lợi rất nhiều nhờ mạng. Ông Trump tận dụng mạng xã hội để kết nối với người dân, xây dựng độc giả cho những ý kiến mang đậm cảm xúc cá nhân, gây xúc phạm đến nhiều người của mình. Nhiều thông tin sai về bà Clinton từ nhiều nguồn khác nhau đã được tung lên mạng, đặc biệt là Facebook, ảnh hưởng đến hình ảnh vốn đã có phần xa cách của bà trong lòng công chúng. Về phần Facebook, mạng xã hội này là điển hình của luồng tư duy và tình cảm tưởng chừng khách quan, trong sáng mà tôi nói đến ở trên. Sau khi bị chỉ trích là thiên vị cánh tả, Facebook đã sa thải đội ngũ biên tập thông tin cho mục Trending và giờ chỉ dựa vào thuật toán để sàng lọc tin tức nóng cho người dùng. Tuy nhiên, thuật toán chỉ là thuật toán nên không đủ tinh tế để phân biệt thật giả, cũng như những ẩn ý đạo đức đằng sau các quan điểm.

Một ví dụ về cái tưởng chừng là trung lập, khách quan của mạng mà tôi quan sát gần đây xuất hiện trên một diễn đàn của các bạn trẻ Việt Nam ham hiểu biết. Trên diễn đàn này dấy lên một cuộc tranh luận về nữ quyền nhân Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10. Ban quản trị mạng đăng một bài viết bài xích nữ quyền để mọi người tranh luận. Tất nhiên bài viết (của một bạn nam) cũng nhận được những phản hồi đanh thép, kịp thời của các bạn nữ. Trước đó tôi có theo dõi diễn đàn này, nhưng sau sự việc này tôi đã bỏ theo dõi vì không đồng tình với chủ đề tranh luận của diễn đàn.

Mặc dù tôi tôn trọng ý định tốt của diễn đàn và hiểu rằng mọi người ngày nay thường tung hô việc đưa thông tin hai chiều, tương đối chủ nghĩa như tiêu chuẩn lý tưởng nhất, tôi cho rằng thái độ tưởng chừng cởi mở, khách quan này trở nên vụn vặt trước những lịch sử và bất công lớn, ví dụ như lịch sử bất bình đẳng giới.

Các bạn nam thì tôi không nói, vì quan điểm ở mức cực đoan thì chỉ đơn giản là khác biệt, hai bên không thể tranh luận thêm, nhưng đối với các bạn nữ, đến bây giờ mà các bạn gái vẫn còn mất thời gian tranh luận, đặc biệt với nam giới, về việc phụ nữ có giỏi bằng nam giới hay không sao? Đến bây giờ chúng ta vẫn phải chứng minh rằng nếu xưa nay phụ nữ không đạt được những thành tựu ngang với nam giới thì không phải vì bộ não của nam nữ có sự khác biệt gì lớn, mà chỉ đơn giản là vì thể chế xã hội kìm hãm phụ nữ, không cho phép họ phát huy hết tiềm năng của mình hay sao?

Sau thắng lợi của ông Trump, với tư cách là phụ nữ, khi lên mạng, tôi tự nhắc mình phải cẩn thận hơn khi tiếp nhận thông tin. Tôi không muốn mất thời gian tranh luận với nam giới về những vấn đề liên quan đến phụ nữ nữa. Và đối với những thông tin khác, kể cả những nghiên cứu khoa học tự nhiên, những tư duy triết học sâu sắc được đúc kết từ hàng nghìn đời nay mà mọi người thường nghiễm nhiên coi là chân lý, là trung tính, khách quan, tôi cũng phải cẩn thận đánh giá trong giới hạn khả năng của mình xem chúng có dựa trên những giả thiết gia trưởng nào đó hay không. Làm được như vậy là tôi đang cố gắng làm một việc mà Facebook không làm: Đó là dùng bộ óc và trái tim, dù không hoàn hảo của cá nhân mình, để sàng lọc thông tin, chứ không phải dựa vào tư duy toán học máy móc, có xu hướng đơn giản hóa vấn đề mà trong nhiều trường hợp thì hữu ích, nhưng trong nhiều trường hợp khác liên quan đến sự phức tạp của con người thì lại gián tiếp tiếp tay cho bất công.

Closing curtain: the last and tragic days of Hanoi’s beloved movie theater

The news that a beautiful art house will have to shut down to make way for a shopping mall has broken and also hardened hearts.

8
A view of the French-style courtyard of the valuable independent film venue Hanoi Cinematheque one early morning. Photos: TMH

It’s raging everywhere. A visceral conflict, a conflict of first principles, between money and tasteless consumption on the one hand, and quality and intellectual pleasure on the other hand. A tension between one group and another in society, and within our own breasts.

Many of us go about life today compromising, conforming and prostituting ourselves to money and everything that it can buy until something personal suddenly hits us in the face, reminding us what a trashy age we’re living in and that we are still proud and decent enough to feel insulted, and forcing us to turn back and choose a course that is more honest.

In Hanoi, it is what hard-core cinema fans feel upon hearing that Hanoi Cinematheque, the lovely, only full-time “art house cinema” in Southeast Asia will soon be shut down, to make way for yet another shopping mall.

Hanoi Cinematheque, which was opened 14 years ago by American film historian and director Gerald Herman, will have its last day on November 30. On the closing night, faithful members and audiences will be offered two American classics, Howard Hawks’ 1948 western Red River and Peter Bogdanovich’s 1971 black-and-white drama The Last Picture Show, a poignant and fitting choice.

Then afterwards, the cinema and the area in which it is located, 22A-B Hai Ba Trung Street in Hoan Kiem District, will be cleared out for the construction of a shopping mall. The high-end shopping center Trang Tien Plaza is right next door.

This new project is developed by a local company. It will have 4 underground floors, and 6 floors above the ground – the same height as Trang Tien Plaza.

With more and more luxurious hotels and shopping malls being built one after another, the future of downtown Hanoi is sealed.

As Gerald Herman, who is better known Gerry puts it, “nothing is secure in Hanoi these days.”

Gerry said in an email that though many people had begged him to move Hanoi Cinematheque to another location, he would not accept the risk. “We could find another place and spend a lot of money to make a new theater, and then be thrown out in a year or two,” he said.

Gerry said his appeal to the developer to let him stay for some more time had been turned down, even though construction will not begin for at least another year and possibly longer.

In an email sent out to Hanoi Cinematheque’s members, Gerry described the developer as “too powerful and reckless and heartless” and that “there is simply no room for us in the New Hanoi.”

The imminent fate of Hanoi Cinematheque is plunging expats and locals into melancholy and frustration. Over the years, Gerry’s 9,000 DVD-strong collection has offered Hanoians an invaluable taste of world cinema.

Hoang Da Vu, a former film theory and criticism student and now a lecturer at the Hanoi Academy of Theatre and Cinema, said she was shocked to hear the cinema would be closed. Though she is too busy to go to the place now, it was her second home during college.

A decade ago, there were few sources of world cinema classics for film students in Hanoi to turn to so Hanoi Cinematheque filled in the gap.

Vu and her friends frequented the theater to watch great, well-known old and contemporary foreign films. The cinema, nestling in a deep, old-style alley in the heart of Hanoi, was a cozy “cinema paradise” for the students.

The technical quality of the 89-seat theater was superb and the students were always offered special treatment, either free screenings or very low prices. (The cinema is a non-profit club which operates on annual membership fees and donations per screening.)

Gerry, who also taught world cinema history at the Academy, became a teacher and a companion who inspired many students. Many film courses, events and international film weeks were held at his cinema and the students were given the priceless opportunities to interact with filmmakers and other cinema lovers.

“This place, filled with inspiration and memories, will soon become history,” Vu lamented.

On social media, many people are also expressing warm support for Hanoi Cinematheque, hoping that if not this cinema, then in the future, authorities and investors will show more mercy toward precious cultural values. But this sounds a bit naïve and hypocritical. Capitalist development is a powerful force which is all the more powerful because it has slithered its way into the hearts of many of us. Few are innocent. Corruption is likely just a matter of degree.

Cinema itself is a modern artifact, a form of mass entertainment and delusion, a macho celebration of technical virtuosity, an art of spectacle that exaggerates life. So there is no reason for wishful thinking. If we are really serious about trying to curb our exaggeration and excess, each one of us can start right where we are.

For cinema fans, the best way to carry on Gerry’s mission of promoting art house cinema would include a few things.

First, we should just stop watching wasteful, meaningless commercial cinema altogether. Consumers’ acquiescence is what drives development in the first place. And since independent film venues like Hanoi Cinematheque are now even harder to find, we can use the Internet as a learning tool to get updated on many of the best known classics.

Another channel for watching great classics in Hanoi these days, especially for young audiences, is to join film clubs or public screenings offered by film schools. The true perk of attending public screenings may not be the availability of having a bigger screen than one’s laptop. Rather, it is to have the opportunities to discuss cinema with others.

Film schools often offer lively, engaging discussions after screenings. The Hanoi Academy of Theatre and Cinema screens classics every Thursday afternoon. The Hanoi University of Social Sciences and Humanities screens movies by themes every Friday morning. The Center for Assistance and Development of Movie Talents (TPD) also has themed screenings every Friday evening.

Audiences who once in a while want to catch the best and latest films, whether artistic or commercial, by Vietnamese or international filmmakers, can wait for periodical film festivals. Though big film festivals are often held once every year or less frequently, these events offer cinema lovers intensive, rewarding watching: You can watch a great number of films during the several days a festival takes place and this may be enough to provide a bird’s eye view of cinematic development.

At present, there are three major, highly interesting and successful film festivals in Hanoi: the Hanoi International Film Festival organized by the culture ministry, the European-Vietnamese Documentary Film Festival organized by the European Union National Institutes for Culture (EUNIC) and the Vietnam National Studio for Documentary and Scientific Film, and the Hanoi Docfest featuring European and Southeast Asian documentaries and experiment films organized by the documentary and experimental film center Hanoi Doclab and the Goethe Institute.

One last note of caution: Today we often see the coupling of corporate money and culture to create what can be called “cultural brands.” After profiting from more ordinary kinds of goods, the rich and powerful deem it fit to invest in high-minded items such as art and earn the extra respect of being cultural sponsors and pioneers, whitewashing any previous bad deed that might have been committed against genuine thinkers and cultural values.

But we should remember that money, and what often goes with it, scale and glamor, aren’t criteria to judge quality and greatness. If possible, and if we have to choose, we should always choose to support what has quality but is smaller and more modest and what thus needs our support much more than corporate cultural projects. And real thinkers and artists should fight the temptation to be hyped-up and become brand names themselves. Hopefully, we can fumble our way out of this society of spectacle.

Taking small but steady steps, contemporary Vietnamese movies exude aplomb

VnExpress November 13, 2016  If the batch of new features presented at the recent Hanoi International Film Festival is any indication, the future of Vietnamese cinema looks alright.

Nineteen Vietnamese movies, including two competing in the Best Feature category with foreign entries, were screened at the Hanoi International Film Festival, a biennial event that began in 2010.

Both of the two movies in competition brought home some honors: Victor Vu’s Toi thay hoa vang tren co xanh (Yellow Flowers on the Green Grass) won the Special Jury Award For Feature Film while Dustin Nguyen’s Trung so (Jackpot) picked up the People’s Choice Award for Competing Feature Film.

While Yellow Flowers has generally been overrated, Jackpot is a simple, though not too remarkable film that deserves its win. Dustin Nguyen’s movie about the struggling life and the luck of a lottery seller was named Best Feature Film at the Vietnam Cinema Association’s Golden Kite Awards held earlier this year. It was submitted as the Vietnamese entry to the Best Foreign Language Film category of the Oscars last year, but didn’t make the cut.

The image of lottery sellers in hardship — and of ordinary working people praying for some wondrous stroke of luck in life — has been recycled by Vietnamese filmmakers in recent years. Luu Huynh’s Lay chong nguoi ta (In the Name of Love), for instance, features an angry, violent character who tries to earn a living by selling lottery tickets. Tran Dung Thanh Huy’s short 16:30 also deals with homeless children selling lottery results. But it’s not until Jackpot that lottery sellers have been given the relief that they sorely need.

truong-ngoc-anh
Actress Truong Ngoc Anh and the crew of Truy Sat (Tracer) strutted on the red carpet at the 4th Hanoi International Film Festival. Tracer was screened as part of the Contemporary Vietnamese Films section of the festival. Photo: Xavier Bourgois/VnExpress

Yet, the true delight and surprise of Vietnamese cinema at the festival wasn’t Jackpot, or the trivial and almost silly road trip comedy Taxi, em ten gi? (Taxi, What’s Your Name?), which stars rising comedian Truong Giang and has won the People’s Choice Award for Contemporary Vietnamese Film.

The most interesting revelations were actually the more or less “serious” movies, particularly films bankrolled by the culture ministry such as Dinh Thai Thuy’s My nhan (Beautiful Woman) and Dinh Tuan Vu’s Cuoc doi cua Yen (Yen’s Life), or the BDH production Quyen (Farewell, Berlin Wall) by Nguyen Phan Quang Binh.

What’s fascinating about these movies is good visuals (the camerawork in Vietnamese movies in particular has become more eye-catching and confident with plenty panoramic scenery shots) and what’s more important, solid social settings and characters.

These settings and characters provide some sense to counteract the mindless images of expensive clothes, cars and houses and sexy, unrealistically perfect male and female bodies that are common in the so-called “commercial movies” today. Though they aren’t perfect, Dinh Thai Thuy’s period drama Beautiful Woman set in the 17th century, and Nguyen Phan Quang Binh’s Farewell, Berlin Wall about the Vietnamese community living in Germany in the late 1980s are rich, fertile texts, especially from a woman’s perspective.

Patriarchal psychology at work

For those unfamiliar with Vietnamese history, Beautiful Woman is an informative work. The movie sketches a portrait of Nguyen Phuc Tan, the fourth ruler of the Nguyen Lords, who reigned over southern Vietnam for over two turbulent centuries while the puppet Le Dynasty and the Trinh Lords ruled the north. In history, Nguyen Phuc Tan is viewed as a good king and a military talent who defeated the Dutch East India Company, which came to attack southern Vietnam, and who helped expand Vietnam’s territory further to the south.

The real drama of the movie, however, isn’t his military triumphs and general wisdom. It lies in his relationship with a beautiful concubine whom he loves but his courtiers disdains. They beg him to get rid of her because his infatuation makes him negligent in handling national affairs.

Nguyen Phuc Tan’s difficult final decision here brings to mind a similar case in Woody Allen’s great psychological thriller Match Point. In both instances, there is a man who has to choose between his sexual passion for a woman and his non-sexual interests.

[WARNING: The following two paragraphs contain spoilers about the movies]

In both instances, the man decides to exterminate the woman. The Vietnamese man however is much less selfish, because what he has to think about isn’t just his own petty material concerns. Woody Allen’s anti-hero has to kill his girlfriend because she may jeopardize his marriage with a wealthy wife. Nguyen Phuc Tan, by contrast, is already a powerful ruler who is responsible for the welfare of his subjects.

Still, the cruel act done toward the female seductress in both movies is the same. It reveals the ultimately similar patriarchal psychology at work: Woman is held as a sexual object which, after satiating man’s desire, will be eliminated if it threatens his higher, or more important, callings.

[SPOILER ALERT ENDS]

A man’s movie

quyen-bs-hanz
A scene from the BDH production Quyen (Farewell, Berlin Wall) by Nguyen Phan Quang Binh.

The idea of women as passive sexual victims finds its fitting cinematic expression in Nguyen Phan Quang Binh’s Farewell, Berlin Wall.

Like his previous film Canh dong bat tan (Floating Lives), Farewell, Berlin Wall also features some great camerawork that showcases the breathtaking grandeur of snowy mountains and forests in Europe. And against this backdrop, lost is the woman.

Like many other Vietnamese in the 1980s, the movie’s protagonist Quyen follows her husband from Vietnam to Russia and to Germany to search for a better life as the Berlin Wall dividing East from West is falling down. As they illegally cross the border, Quyen is snatched away from her husband by the guide, a Vietnamese gangster who desires her. The gangster, Hung, rapes her, makes her pregnant, then upon her entreaty, returns her to her husband. Yet things can never be the same again. When the husband, Dung, finds his wife now a dishonored woman, he kicks her out of the house. Desperate, Quyen attempts suicide but is saved by a kind-hearted German man named Hans.

In Binh’s movie, Quyen is a beautiful, quiet and helpless chess piece moved around between the three men. The opening sequence in particular pitches the vulnerable woman against the overwhelming nature, part of which is Hung’s forceful nature of a rapist. He allows Quyen to escape him if she can. But though she tries, Quyen alone can’t find her way out of the snowy mountains.

This movie sounds like a boast of gritty masculinity. Hung, Dung, and to a lesser extent Hans, are engaged in a tragic but epic battle of men in their efforts to survive in nature and society. The woman is the victim and the reward. She plays an essentially minor and passive part, ranging from the beautiful, helpless object of man’s rape to the forgiving, nurturing and untouchable mother of man’s child.

Better ideas about woman that sell

After watching Beautiful Woman and Farewell, Berlin Wall, which are set in older times, and understandably, reflect the gender values of traditional societies that don’t give women any sense of agency, it is a breath of fresh air to watch movies portraying contemporary women who are strong and active and to a considerable extent, do run the show.

Though it is based on the Thai movie The Love of Siam about gay men rather than a home-grown idea, Viet Max’s Yeu (Love) about lesbians flips the gender switch and gives the long overdue stage to female characters here in Vietnam. It is especially interesting to see how men are portrayed in the movie, how they are rejected by the gay women.

Though Love doesn’t have the complexity and depth of the original Thai version, it is nonetheless a creative remake which has to come up with new male characters to help portray the lesbian relationship. The pictures of those male characters aren’t far from reality and quite convincing. One can understand why the girls would still reject them even if they weren’t homosexual. One guy in particular, who comes from a rich family, leads such a boyish, clueless and wasteful life that any smart girl could hardly be able to put up with.

Another remake about strong women is Phan Gia Nhat Linh’s Sweet 20, a close copy of the Korean box-office hit Miss Granny. With total box-office takings of $4.76 million, the Vietnamese version has also become the biggest hit of Vietnamese cinema ever. Though some criticize the film for its lack of originality, the original Korean premise is certainly a brilliant one that deserves attention.

em-la-ba-noi
A scene from Phan Gia Nhat Linh’s Sweet 20, a remake from a popular South Korean movie.

Miss Granny is about an old woman who has a magical chance to be young and 20 again. Now she can do what in the past she couldn’t or what she can’t now in an aging body: be strong and healthy, sing on stage and have a nice romance with a desirable bachelor. Yet, despite the temptation, the woman chooses to return to the reality of aging.

The fear of aging and death and the desire for youth may be common feelings to both men and women. But it is appropriate to let a female character handle this challenging existential issue since woman has traditionally been associated with nature, biology and the body.

The female body has also been subject to greater scrutiny and control than the male body. It is to the credit of global popular culture that movies like Miss Granny let a woman be the main character and let her affirm the value and beauty of aging.

And yet popular culture is still part of the patriarchal landscape. Instead of watching a more serious movie about an old woman and her true-to-self statement, we watch instead Miss Granny, an entertaining, easy movie about an old woman being fantastically given the chance to be young. Though we love the old woman, we are also deeply attracted by the youthful, beautiful looks of her young version.

Deep down, we are still driven by our baser emotions. We want beauty, fantasy, laughter and entertainment. Popular culture both creates this and caters to it in an endless circle. Would you see a more realistic movie about old women aging?

In Hanoi, sounds of the past resonate amid noises of vulgar age

VnExpress October 29, 2016 – In this age of fast-food pop culture, crash materialism and vulgarity, some good old music may bring you back to a purer past.

In our intensely mediated, globalized era, the practiced exuberance of life as shown in the show business environment everywhere can reach an unbearably annoying pitch.

It’s killing me every time I turn on TV and see another new reality show where people get on stage to sing and dance. To treat life as a stage or even as art, to take photos and try to capture every moment, to shine the spotlight on everything is an adolescent, vulgar value that many people are believing in these days.

Vietnam, with a young population, is fast becoming an integral part of the global show business. Indeed in recent years, Hanoians have been living high with a variety of offerings ranging from popular culture to high art — a distinction that isn’t important as blurring boundaries is a motto of this age anyway. And though the number and scale of cultural events in Vietnam are still modest by international standards, there are enough for locals to choose from.

Free cultural events of good taste offered by foreign institutions such as the Goethe Institute, the French Institute and the Japan Foundation for instance have become beloved dishes in the cultural banquet. Local sponsors with money are also jumping in to provide Vietnamese audiences with “authentic” experiences such as events featuring Richard Clayderman in 2014, Kenny G in 2015, and classical French ballet earlier this year.

And this October, Hanoians, especially those born in the 1980s or earlier, were lucky to have the opportunities to see their idols perform live. Boney M and Chris Norman performed at the National Convention Center early this month, and Modern Talking will sing at the same venue in late November. And just a few days ago, the German rock band Scorpions delivered a set list of well-known old songs at a very interesting place: the over-one-thousand-year-old Imperial Citadel of Thang Long.

scorpions
The German band Scorpions performed in Hanoi on October 23 as the headliner of the Monsoon Festival. The event was held at an unusual venue for rock concerts: the Imperial Citadel. Photo: Giang Huy/VnExpress

The Scorpions’ show was part of the annual Monsoon Musical Festival, an initiative started two years ago by Nguyen Quoc Trung, a respected producer in the local music scene.

This festival, featuring many local and international acts, has become a big success, positively received by audiences, the media and cultural authorities, who allowed it to take place at the Imperial Citadel, a UNESCO World Heritage Site usually reserved for only high-profile cultural events.

Dao Tram, who went to see the Scorpions and loved it, said attending a modern, Western rock concert within such a historical setting didn’t bring any jarring feeling. She simply loved the fact that the venue was so spacious.

Tram’s friend, who asked to be called by her nickname Hana, said the concert was so good in every way that it did justice to the dignified setting.

“Though they aren’t young, Scorpions still sang very well,” Hana said.

She said credit must be given to Trung, the music producer, for organizing such a high-quality festival and for never trying to aim for any cheap glitz that one may easily find in the showbiz today.

Outdoor musical festivals that run for a few days on end are not rare in other countries but in Vietnam, so far there has only been Monsoon, Hana said.

The Scorpions ticket alone cost VND660,000 or around $30, which was more expensive than a 4-day pass for last year’s festival. Most of the people who went to the concert were 30-somethings who could afford the cost and could keep their manners. Trung left nothing to chance. He constantly, shyly and politely reminded his audiences to pick up trash and be friendly to each other.

Born in 1983, Hana and her friends said they didn’t just enjoy the music but also the atmosphere, feeling a certain bond with strangers who grew up in the same era and were all familiar with old songs.

The two friends also loved the idea of opening up the Imperial Citadel, instead of being stiff-necked and conservative and keep it for history and tradition, and sometimes for young married couples to take photos.

If such a precious historical site can be used for great events like Monsoon, it can become a new cultural symbol that stands for the connection between history and modernity, in a good sense of the relationship.

The duo’s positive attitude about the best of pop culture, modern life and Vietnam forces me to search hard within myself to find if there is any place that remains untainted by skepticism and cynicism, which I blame on this crash, vulgar age.

There isn’t much innocence in me, but recently I did have a moment of sorts. I was at a decent hairdresser’s shop. The hairdresser was a capable one but I didn’t like the fact that he had increased the price for a cut by VND50,000. I was deciding in my mind that I wouldn’t come here frequently.

Then a shop assistant turned on the music.

It was a collection of old songs like the ballad “Big Big World” from Swedish singer Emilia, which was popular in Europe and Asia back in the late 90s.

For a moment, I felt a surge of strange, pure love for the song and its era, when I was in middle school and Hanoi wasn’t developing as much and there were far fewer entertainment programs and reality shows on TV.

The song reminded me that once upon a time, I didn’t hate pop music and showbiz and many other things too much. And that I could still find some small things that speak to me in some quiet corner somewhere.

Đi tìm khuôn mặt cho người phụ nữ

Eva.vn 31/10/2016 – Thái độ nửa tếu táo, nửa tự tin về phẫu thuật thẩm mỹ ngày nay đang tước đi danh tính vốn mong manh của người phụ nữ. 

girl-before-a-mirror
Girl Before A Mirror, bức tranh vẽ năm 1932 của Pablo Picasso. Hình minh họa: www.pablopicasso.org

Tôi thường đến bệnh viện đông y gần nhà để xông mặt bằng lá thuốc. Ở đó tôi gặp một số chị em đã trải qua phẫu thuật thẩm mỹ, chủ yếu là sửa mũi.

Có chị nói rất vui: “Chị vừa đi sửa mũi về, va vào cánh cửa buồng tắm. Thế là chị nghĩ, ối dời ơi, hỏng mất mũi rồi. Nhưng hóa ra không sao. Đấy, phẫu thuật cấu trúc đắt tiền nên tốt thế đấy!”

Thời nay chị em nói về phẫu thuật thẩm mỹ, về việc sửa đi sửa lại các bộ phận trên khuôn mặt mình một cách thản nhiên như thể cơ thể chúng ta là một cái máy có thể tháo ra lắp vào dễ dàng.

Mà chưa cần nói đến phẫu thuật thẫm mỹ, phụ nữ thời nay, với tất cả những vướng bận về son phấn và thời trang, hình như hơi quá mau lẹ trong việc chán ghét cơ thể mình.

Tôi có một cô bạn xinh xắn và giản dị. Bạn tôi không bao giờ trang điểm. Thế nhưng thay vì ở thế chủ động vì luôn sống với bộ mặt tự nhiên như của đứa trẻ khi lọt lòng mẹ, bạn tôi lại bị đẩy vào thế bị động, tự ti vì thường ra đường với khuôn “mặt mộc”.

“Mặt mộc”! Ngôn ngữ bây giờ rất dí dỏm, sáng tạo. Mặt tôi bây giờ không còn là mặt tôi nữa mà là “mặt mộc”. Và các cô gái quen dùng son phấn mỗi khi nói về lựa chọn đi đâu với khuôn “mặt mộc” là như đang nói về một quyết định lớn lao. Như thể sống đơn giản, gần với cơ thể mình, gần với tự nhiên giờ đây trở thành một thành tựu. Nếu vậy thì thực sự con người đã xa rời bản thể của mình, cuộc sống đã trở nên quá nhân tạo, quá giả dối rồi.

Cái đẹp dựa trên thành tựu của khoa học công nghệ

Tuy nhiên nói một cách công bằng, những gì nhân tạo không hẳn là giả dối. Trong trường hợp phẫu thuật thẩm mỹ, chị em có thể tự tin về sắc đẹp dao kéo đều là nhờ những thành tựu đáng nể của khoa học công nghệ. Khoa học công nghệ thực sự đã phát triển rất mạnh để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của con người.

Khoa học công nghệ ngày nay còn có thể làm hơn phẫu thuật thẩm mỹ nhiều. Ví dụ, giữa tháng 9 vừa rồi, truyền thông trong và ngoài nước đưa tin về một thí nghiệm thành công trên chuột mở ra viễn cảnh một ngày nào đó, đàn ông có thể đẻ con mà không cần trứng của phụ nữ.

Thí nghiệm này khiến cho một tờ báo lá cải nổi tiếng hứng khởi giật tít là các nhà khoa học làm phụ nữ trở nên thừa thãi! Tuy có đề cập đến việc thí nghiệm này có thể gây tranh cãi, bài báo không phân tích những phản biện liên quan đến câu hỏi liệu khoa học nên can thiệp đến đâu vào tự nhiên.

Thế mà trước đó không lâu, trong một bài báo khác đưa tin về một khám phá tương tự nhưng mở ra viễn cảnh ngược lại, tức là phụ nữ có thể sinh con mà không cần đàn ông, thì tờ báo này lại dùng một dòng tít thể hiện sự hoài nghi về khám phá của các nhà khoa học và trích dẫn nhiều ý kiến phản đối sự can thiệp thái quá của khoa học vào cơ thể con người.

Nói như vậy là để cảnh giác độc giả nữ khi đọc báo: Những ứng dụng có thể ảnh hưởng đến danh tính phụ nữ có thể được dễ dàng chấp nhận hơn những gì có khả năng gây tổn hại đến vai trò của đàn ông.

Sự bất cân đối, không hoàn hảo mới là cái gốc của tự nhiên

Quay trở lại vấn đề sắc đẹp, nguyên nhân chính khiến phụ nữ phẫu thuật thẩm mỹ, sử dụng son phấn hay xe xua quần áo là mặc cảm mình chưa đủ đẹp, mình xấu. Thực sự tự nhiên có phân định xấu đẹp không? Hay tất cả chỉ là những giá trị nhất thời mà xã hội con người dựng lên?

Quả thật, trong quan điểm thẩm mỹ của con người về cái đẹp, ta thường thấy một tiêu chí là sự hài hòa cân đối và đây đúng là một đặc tính phổ biến của tự nhiên.

Ví dụ, khuôn mặt người có hai mắt, hai tai chia đều hai bên. Đấy là sự cân đối. Tuy nhiên tự nhiên cũng rất sâu sắc. Nếu nó có một quy luật về sự cân đối để loài người dựa vào đó mà xây dựng nền nghệ thuật và thẩm mỹ của mình, thì nó cũng có một quy luật lớn hơn, cơ bản hơn bao trùm sự cân đối. Đó chính là quy luật về sự không cân đối.

Louis Pasteur, nhà bác học tài năng đã tìm ra vắc-xin phòng dại và được biết đến như là “cha đẻ của ngành vi sinh vật học”, là người đầu tiên đề xuất rằng vũ trụ không cân đối. Ông đưa ra kết luận này sau khi phát hiện ra cấu trúc bất đối xứng của phân tử tinh thể trong lĩnh vực hóa học.

Hiện nay khoa học cũng chưa thực sự giải thích được tại sao vũ trụ không cân đối. Tại sao có nhiều vật chất hơn phản-vật chất ngay sau vụ nổ Big Bang sinh ra vũ trụ? Tại sao tất cả các sinh vật trên Trái đất đều sử dụng L-axit amin (axit amin “thuận tay trái”) để cấu thành protein, chứ không phải axit amin “thuận tay phải”?

Cơ thể người nhìn bề ngoài thì cân đối nhưng bên trong thì ngược lại. Các cơ quan đầu não đều được sắp xếp một cách bất cân đối: Tim, dạ dày, lá lách và tuyến tụy nằm bên trái; túi mật và phần lớn của gan nằm bên phải. Hay như phổi trái của chúng ta có hai thùy, trong khi phổi phải có ba.

Trực giác và kinh nghiệm sống cũng có thể dạy chúng ta rằng cuộc sống này làm gì có cái gì hoàn toàn cân đối hay hoàn hảo? Và như vậy thì tại sao chúng ta phải giãy giụa, cố gắng ngoi lên, cố gắng thay đổi mà nhiều khi là trong vô vọng cái không cân đối, không hoàn hảo, cái “xấu” mà cũng chính là cái gốc của chúng ta?

Trả lại sự trong sáng cho tuổi thơ

Hồi cấp 1 tôi có một cô bạn thân. Chúng tôi cùng đi học thêm, cùng đọc truyện tranh, cùng xem phim và thảo luận về trường lớp, phim ảnh. Một lần, trong giờ giải lao, cô bạn tôi hỏi thầy giáo chủ nhiệm một cách hồn nhiên, ngẫu hứng: “Thầy ơi, trong lớp mình bạn gái nào xinh nhất hả thầy?” Thầy chủ nhiệm trả lời rất người lớn và rộng lượng: “Thầy thấy lớp mình bạn gái nào cũng xinh!” Bạn tôi hỏi tiếp: “Kể cả cái Linh hả thầy?”

Khi nghe bạn gái mình ám chỉ rằng mình xấu, cô bé 9 tuổi là tôi lúc đó đã nghĩ gì? Cô bạn tôi không bao giờ biết được rằng câu nói đó đã làm tổn thương tôi như thế nào. Trước đó, tôi chưa bao giờ nghĩ mình xinh hay xấu, chưa bao giờ ý thức về khuôn mặt của mình. Tôi khỏe mạnh và vui vẻ. Vậy thôi.

Nhiều năm sau tôi gặp lại cô bạn nhỏ giờ đã trở thành một người phụ nữ xinh đẹp, tự tin. Câu chuyện giữa hai chúng tôi tình cờ dẫn đến một câu nói của bạn tôi. Bạn tôi nói: “Không hiểu sao ngày xưa tớ nghĩ mình xấu.” Khi nghe bạn tôi nói câu đó, mọi chuyện chợt hiện ra rõ ràng trước mắt tôi và cô bé trong tôi đã thực sự tha thứ cho cô bạn của nó.

Tôi tha thứ vì bây giờ tôi đã hiểu: Bạn tôi cũng chỉ là nạn nhân. Bản năng tự nhiên, nếu có, không quan trọng hơn ảnh hưởng của xã hội con người. Con gái từ bao đời nay đã phải sinh ra và lớn lên cùng với những tiêu chuẩn thẩm mỹ nhân tạo, khắt khe, hời hợt. Những tiêu chuẩn này được truyền đạt qua phim ảnh, sách báo, ca dao tục ngữ hay nhận xét của người này người khác. Những tiểu chuẩn này được dùng để giới hạn phụ nữ, và phụ nữ nhiều khi không biết lại dùng chúng để đánh giá, ganh đua và làm tổn thương nhau.

Bây giờ có lẽ đã quá muộn và cũng không cần thiết để phụ nữ phải thay đổi. Ai thích phẫu thuật thẩm mỹ hay dùng son phấn thì hoàn toàn có quyền làm như vậy. Chỉ có điều chúng ta có thể ý thức về những ẩn ý đằng sau ngôn ngữ. Khi tôi không đánh son thì không phải là tôi đang để “mặt mộc” mà chỉ đơn giản là vì bạn đang “trang điểm” mà thôi.

Nhan sắc và đàn ông: lời hứa dễ dãi của một quảng cáo

Phim ngắn quảng cáo cho sản phẩm trị mụn mới ra lò của Pond’s có tên là “Khi tôi là tôi” do Nguyễn Quang Dũng đạo diễn là một sản phẩm quảng cáo điển hình: trau truốt về hình ảnh và âm thanh, lưu loát trong câu chuyện và thông điệp, và nên cảnh giác – nếu bạn là phụ nữ trong xã hội vẫn còn gia trưởng và rất nặng về tiêu thụ ngày hôm nay.

Bài viết này không có mục đích chê bai sản phẩm của Pond’s hay bất kỳ sản phẩm nào trên thị trường. Người viết chỉ dùng phim quảng cáo “Khi tôi là tôi” như một ví dụ để giải mã thông điệp tư tưởng đằng sau những sản phẩm quảng cáo nhắm vào người tiêu dùng nữ trong nền văn hóa còn nhiều vấn đề phải suy nghĩ về mối quan hệ nam nữ này.

Dù bất đồng hay thậm chí là đồng tình với những thông điệp vừa rõ ràng vừa tinh tế của quảng cáo, phụ nữ nên ý thức về chúng để không bị chúng thao túng. Thái độ độc lập trong suy nghĩ này không chỉ đúng với quảng cáo, mà đúng với bất kỳ sản phẩm văn hóa và tư tưởng nào, và là thái độ chung mà mỗi người nên xây dựng trong thời đại bùng nổ thông tin.

Trong phim ngắn dài gần 13 phút do ba bạn trẻ Ninh Dương Lan Ngọc, Hạ Vi và Rocker Nguyễn đóng vai chính, sản phẩm trị mụn mà tất nhiên là bạn phải bỏ tiền ra để mua, nhan sắc và cơ thể của phụ nữ, và tình yêu với đàn ông được hòa quyện chặt chẽ trong một nhân sinh quan dễ dãi về cơ thể con người và cuộc sống.

Nhân vật chính là Mai My, hay còn gọi là My Mụn, một cô gái trẻ bị mụn khi đến tuổi dậy thì. Mụn khiến Mai My thiếu tự tin, đặc biệt là trước cô bạn thân đẹp hơn tên là Minh My, hay My Mẫu. My Mẫu đẹp nên làm nghề người mẫu; My Mụn thì giấu mình ở nhà, vẽ tranh về những cô gái đẹp để đăng trên Facebook.

Tài năng hội họa của My Mụn hấp dẫn Kiên, một người hâm mộ cô trên Facebook. Một ngày, hai người hẹn gặp nhau. My Mụn tự ti phải nhờ My Mẫu đóng giả mình. Sau đó mỗi dịp đi chơi, cả ba đi cùng nhau. My Mụn quan sát Kiên và My Mẫu vui vẻ với nhau thì không khỏi buồn và ghen tị. Cô quyết định nói cho Kiên biết sự thật.

Đúng thời điểm My Mụn có đủ can đảm thừa nhận mình là ai, cô cũng phát hiện ra bộ sản phẩm “ngừa mụn” mới của Pond’s. Sau 3 ngày sử dụng, mặt My Mụn hết mụn. Cô gặp Kiên và rất hạnh phúc khi Kiên nói rằng My Mẫu ngay từ đầu đã cho anh biết cô là ai, và người mà anh yêu vẫn luôn là cô chứ không phải My Mẫu. Kiên cũng rất bất ngờ khi nhìn thấy khuôn mặt sạch mụn của Mai My.

Đây là một quảng cáo công phu, và với hình ảnh dễ nhìn và âm nhạc dễ nghe, bộ phim chắc sẽ hấp dẫn các bạn trẻ. Sau gần một tháng được đăng trên Youtube, phim đã thu hút hơn 4 triệu lượt xem. Bài viết chỉ xin nêu 3 vấn đề, từ đơn giản đến phức tạp, để đặt quảng cáo này vào đúng vị trí của nó và chỉ ra ranh giới giữa quảng cáo, phim ảnh, thế giới “ảo”, và hiện thực cuộc sống.

Mục đích cuối cùng của người viết là gợi ý rằng hiện thực dù có khó khăn, nhưng nếu có cách nhìn mới, thì hiện thực có khả năng mang lại cho chúng ta sự bình an và thanh thản lớn lao mà những thông điệp và giá trị dễ dãi và “ảo” đang lan tràn hiện nay không làm được.

Vấn đề thứ nhất: Mụn là một hiện tượng phức tạp. Trừ trường hợp da mặt nhất thời nổi một hai cục mụn nhỏ, các bác sĩ thường khuyên rằng những ai bị nhiều mụn tốt nhất là đi khám da liễu. Người bị mụn không nên ai mách gì bôi nấy, hay thấy quảng cáo nào hay là tìm ngay sản phẩm được quảng cáo để mua. Cách làm này vừa tốn tiền mà mụn có thể bị viêm nhiễm nặng hơn.

Vấn đề thứ hai phức tạp hơn, liên quan đến một quan niệm rất phổ biến trong xã hội gia trưởng, trọng nam khinh nữ: Con gái, hay phụ nữ, cần được đàn ông yêu và thừa nhận thì mới là chính mình! Chính vì quan niệm này mà trong quảng cáo, câu chuyện trị mụn của Mai My được lồng ghép với câu chuyện về tình yêu của cô với Kiên. Tình yêu của Kiên là phần thưởng lớn nhất dành cho Mai My. Mai My hết mụn không phải để rạng rỡ cho bản thân cô, mà để cô có thể đối diện với Kiên và được anh yêu.

Vấn đề thứ ba là một vấn đề hóc búa mà quảng cáo không đề cập đến vì nó nằm ngoài thế giới dễ dãi, nhiều ảo tưởng của những cái kết có hậu. Giả sử Mai My bị mụn rất nặng không thể chữa khỏi thì sao? Giả sử cơ thể người phụ nữ, hay cơ thể con người nói chung, bị bệnh nan y mà dù có bao nhiêu tiền, hay những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, cũng không thể chữa nổi thì sao? Khi đó, có phải như tựa phim ám chỉ, là chúng ta không còn là chính mình, tôi không bao giờ có thể là tôi nữa hay không?

Tựa phim và toàn bộ quảng cáo này ám chỉ rằng người phụ nữ chỉ yêu cơ thể mình khi nó đẹp, nó khỏe. Còn khi vì một lý do nào đó mà nó bị xấu đi, bị bệnh, thì chúng ta phủ nhận, từ chối nó, và cảm thấy không còn là chính mình nữa. Đây là một thái độ vô ơn, vụ lợi và hời hợt đối với cơ thể con người và cuộc sống.

Mụn, bệnh tật, hay nói rộng ra, sinh-lão-bệnh-tử không phải là cái chúng ta nên chối từ, phủ nhận. Chúng chính là mặt kia của cuộc sống. Chúng chính là ta. Cuộc sống vật chất này, cơ thể này khi khỏe đẹp cho ta niềm vui, thì khi xấu bệnh, ta sẽ sống cùng với nó cho đến phút cuối cùng.

Người phụ nữ nên yêu cơ thể mình, dù nó xấu hay đẹp. Nhưng nếu Mai My nghĩ được như vậy, nếu cô gái nào khi bị mụn cũng bình tĩnh nghĩ như vậy – không hốt hoảng, không tự ti chán ghét bản thân – thì chắc Pond’s sẽ khó mà bán các sản phẩm dưỡng da của mình.

A feminist reading of Vietnamese and world cultures