Sự nửa vời của Vợ ba và hệ lụy ít ai lường đến

Voices/ZingNếu không cẩn thận thì sự phản biện chỉ là giả tạo và nghệ thuật chỉ đang lợi dụng các chủ đề có thật để tiếp tay cho sự bất công.

Vợ Ba

Illustration: Hà My

Ở Ấn Độ những năm gần đây, kể từ sau vụ hiếp dâm tập thể một cô gái đi xe buýt cùng bạn trai ở New Delhi vào năm 2012 làm chấn động thế giới, nhiều người đã lên tiếng chỉ trích Bollywood vì góp phần duy trì và củng cố cho một nền văn hóa thù ghét phụ nữ, nếu không muốn nói là trực tiếp kích động bạo lực giới.

Các nam anh hùng trong phim Bollywood luôn cơ bắp và bạo lực, trong khi hình tượng phụ nữ thường yếu đuối, hay bị quấy rối chọc ghẹo, “nói không là có”. Và hầu như bộ phim nào cũng phải có một màn múa hát phô trương thân thể của các nữ diễn viên không hề liên quan đến cốt truyện.

Theo một nghiên cứu năm 2014 của Viện Geena Davis, điện ảnh Ấn Độ tính dục hóa phụ nữ nghiêm trọng hơn nhiều nền điện ảnh khác: 35% phụ nữ trong các phim Bollywood xuất hiện với rất ít vải trên người.

Một số nghiên cứu của Kyra Lanis, Katherine Covell và Natalie J. MacKay thì chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng hình ảnh phụ nữ như những biểu tượng tình dục trong các quảng cáo với việc gia tăng hành vi bạo lực tình dục đối với họ.

Ở Việt Nam, không ít lần hình ảnh xã hội gia trưởng với người đàn ông nắm hết uy quyền được khắc họa trên truyền hình và điện ảnh. Gần đây nhất chủ đề này được thể hiện trong bộ phim Vợ ba.

Ngay khi vừa ra mắt, phim đã gây tranh cãi bởi nhân vật người vợ thứ ba do diễn viên 13 tuổi Nguyễn Phương Trà My thủ vai. Ngoài các cảnh phòng the, Trà My còn phải diễn cả việc sinh đẻ của phụ nữ với tất cả sự quằn quại đau đớn có phần cường điệu trong cách kể.

Vợ ba phê phán quyền lực gia trưởng nhưng đồng thời vô tình phản ánh những điểm giao thoa quan trọng giữa nam và nữ, giữa nghệ thuật và hiện thực, giữa thẩm mỹ phương Tây và sự tiếp nhận của khán giả Á Đông. Bộ phim thiên về phía các giá trị nam/nghệ thuật/phương Tây, trong khi trục giá trị kia cần phải được bảo vệ.

Có nhiều câu hỏi đặt ra với Vợ ba: Bộ phim này đã khai thác chủ đề gia trưởng một cách sâu sắc chưa? Nó có phải là một tác phẩm nghệ thuật lớn, như tiếng tăm đạt được nhiều giải thưởng quốc tế tạo ra khi về nước?

Và có lẽ, câu hỏi quan trọng nhất là: Bộ phim có thể xoa dịu nỗi lo lắng có căn cứ về ảnh hưởng của phim ảnh đối với các hành vi xã hội, mà cụ thể là xâm hại trẻ em?

Phản biện chưa tới

Tác phẩm của đạo diễn Nguyễn Phương Anh không phản biện được chủ đề gia trưởng mà nó đặt ra.

Dựa trên một câu chuyện có thật, Vợ ba kể về cuộc đời của Mây, một cô gái mới 14 tuổi đã phải về làm dâu cho một gia đình địa chủ giàu có.

Ở gia đình của người chồng tên Hùng (Lê Vũ Long thủ vai), Mây trải qua những cảm xúc sợ sệt đau đớn, rồi an phận làm quen, và không phải là không thích thú, với tình dục, với việc sinh nở, và một thế giới nội trợ trồng dâu nuôi tằm nữ tính vừa ngột ngạt vừa gợi cảm hiện lên trong phim.

Mây được hai người vợ lớn là Hà (Trần Nữ Yên Khê) và Xuân (Mai Thu Hường) đùm bọc, để rồi cuối cùng vẫn phải đối diện với sự bế tắc tất yếu dành cho những bé gái được trao đổi như những công cụ tình dục và sinh sản trong chế độ gia trưởng.

Tuyến cảm xúc đồng tính của Mây và người vợ hai Xuân không thuyết phục. Nó được dễ dãi mặc định ngay ở đầu phim, khi Mây bị cuốn hút bởi vẻ đẹp hình thể của Xuân, như thể bộ phim này đang lợi dụng chủ đề đồng tính nữ trong văn hóa phương Tây để tạo ra một cảm giác phản biện.

Sử dụng đồng tính nữ trong điện ảnh có hai cái lợi. Một mặt tác phẩm có vẻ mang thông điệp phản biện. Mặt khác, việc phô bày thân thể nữ trên màn ảnh đảm bảo được sự câu khách, như xưa nay điện ảnh trong tay nam giới vẫn làm.

Chính vì thế mà nếu chủ đề đồng tính nữ không thuyết phục, thì việc sử dụng nó vẫn chỉ là đang tiếp tục “vật hóa” (sexual objectification) cơ thể phụ nữ – coi phụ nữ như những đồ vật tình dục, để phục vụ cho cái nhìn nam giới (ở đây được hiểu rộng ra là khán giả) – đúng như các nhà nữ quyền vẫn phê bình mà thôi.

Theo các nhà nữ quyền và tâm lý học, hiện tượng vật hóa phụ nữ trong văn hóa gia trưởng, bao gồm sự tái hiện trên truyền thông, gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự vật hóa phụ nữ góp phần gây ra những vấn đề tâm lý như các bệnh rối loạn ăn uống, trầm cảm, và rối loạn chức năng tình dục.

Trong khi đó, cái tinh thần thật sự phê phán quyền lực gia trưởng thì lại không được làm rõ trong phim.

Các nhân vật nam như Hùng, tuy bản chất là sử dụng phụ nữ như nô lệ, hiện lên trong phim khá “ngầu”: lạnh lùng, ít nói, biết kiềm chế khi thị uy, nhận được tình yêu của người vợ cả Hà trong quan hệ tình dục, và đặc biệt là không phải đối diện với bất cứ một sự phản kháng nào từ các nhân vật nữ.

Trong một cảnh phim, con dâu cả Hà lau người cho bố chồng một cách ngoan ngoãn dịu dàng, trong khi người bố chồng nói về sự vô thường của cuộc sống.

Sự kết hợp giữa không khí Phật giáo có tác dụng vô hiệu hóa mọi đấu tranh theo cách hiểu ở đây tạo ra những nhân vật nữ thiếu trí tuệ và bị động trong một thế giới phim khắc họa nhiều phong tục nghi lễ đẹp đẽ, nhưng độc ác và bế tắc.

Trong lịch sử hay trong cuộc sống hàng ngày xưa và nay, có thật là phụ nữ nhẫn nhịn chịu đựng sự bất công gia trưởng mà không tích cực đấu tranh đến vậy không?

Cô vợ hai Xuân đáng ra có thể là một nhân vật phản kháng, vì Xuân vượt qua mọi lễ giáo để quan hệ tình dục với Sơn, con trai của chồng mình và vợ cả. Nhưng hành động này chỉ có nghĩa nếu Xuân không yêu chồng. Đằng này, cảnh tình dục giữa Xuân với Hùng trông vẫn đẹp, không thể hiện rằng Xuân không thích Hùng.

Cái chất vừa hiền vừa dâm của Vợ ba gợi nhớ sự đanh thép hài hước “chém cha cái kiếp lấy chồng chung” của Hồ Xuân Hương và nhắc nhở rằng đối với người nghệ sĩ, ranh giới giữa phản biện và dung tục rất mong manh.

Nếu không cẩn thận thì sự phản biện chỉ là giả tạo và nghệ thuật chỉ đang lợi dụng các chủ đề có thật để tiếp tay cho sự bất công.

Sự dấn thân có cần thiết? 

Trong Vợ ba, phải khen rằng Trà My diễn xuất tốt và rất có tiềm năng. Cái duyên của đạo diễn Nguyễn Phương Anh khi tìm được một diễn viên phù hợp, hay cái “may mắn” của Trà My khi được nhìn nhận là một điều đáng trân trọng.

Với vai diễn này, Trà My và mẹ em tự nguyện dấn thân. Trà My đóng phim dưới sự giám hộ của mẹ. Đoàn làm phim trong quá trình quay cũng sử dụng nhiều nhân sự nữ, và luôn ý thức đảm bảo không gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý các diễn viên nhỏ tuổi.

Tuy nhiên, Vợ ba không phải là một công việc dễ đối với Trà My. Như đã trả lời phỏng vấn, phản ứng ban đầu của Trà My với những cảnh tình dục là “tởm”, không muốn đóng. Và cái khó nhất về chuyên môn là cảnh sinh con, khi em phải “thể hiện sự đau đớn quằn quại mà mình chưa trải qua bao giờ”.

Ở Việt Nam, Vợ ba không dành cho người dưới 18 tuổi. Rõ ràng về lý, Trà My không được phép xem bộ phim này, vì năm nay em mới 15 tuổi (còn khi đóng phim này em chưa bước sang tuổi 13). Nhưng trên thực tế, Trà My tiết lộ em đã xem bộ phim này đến 5 lần rồi.

Bỗng dưng ta thấy có một thiếu sót trong luật thể hiện sự không nhất quán khi quy định ngưỡng tuổi: Nếu ta cấm trẻ em dưới 18 tuổi xem một bộ phim nào đó thì theo logic, ta cũng cần cấm trẻ em dưới 18 tuổi quay bộ phim ấy.

Trẻ em được phép đóng phim, nhưng mặt khác lại không được phép xem phim mình đóng?

Theo một báo cáo năm 2018 của Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam (VACR) và Mạng lưới bảo vệ trẻ em toàn cầu ECPAT International, luật Việt Nam cấm sử dụng trẻ em dưới 16 tuổi cho các ấn phẩm khiêu dâm.

Thế nhưng, luật lại không định nghĩa cụ thể thế nào là khiêu dâm liên quan đến trẻ em.

Trong khi vấn đề luật pháp cần phải được làm rõ, người xem lại phải đối diện với một câu hỏi khác: Liệu những hình ảnh tái hiện trẻ em quan hệ tình dục với đàn ông lớn tuổi có góp phần kích thích các hành vi xâm phạm ngoài đời hay không?

Ở Việt Nam, vấn đề gây lo ngại hiện nay theo nghĩa nào đó còn nghiêm trọng hơn, vì ta không chỉ đang nói đến sự vật hóa và xâm hại phụ nữ, mà còn là trẻ em, đặc biệt là các bé gái.

Theo số liệu của các cơ quan chức năng, vấn đề xâm hại tình dục trẻ em trong những năm gần đây ở Việt Nam có xu hướng gia tăng. Đó là chưa kể nhiều vụ xâm hại không được khai báo.

Vì Vợ ba phản biện xã hội nửa vời và với sự dấn thân không cần thiết của một nữ diễn viên 13 tuổi, ta không có lý do gì để biện minh cho nó trong bối cảnh nhiều người trong và ngoài nước lo lắng về vấn nạn lạm dụng phụ nữ và trẻ em mà phim ảnh có khả năng góp phần dung dưỡng, tiếp tay.

Advertisements

Vụ dâm ô trong thang máy: Đám đông cuồng nộ có đem lại công lý?

Voices/Zing – Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân của công lý đám đông chủ yếu là do sự thiếu tin tưởng vào pháp luật, cơ quan công quyền.

cover

Illustration: Phượng Nguyễn

Đầu năm 2012, nước Mỹ xôn xao vì hành vi ấu dâm với 8 trẻ em nam của huấn luyện viên bóng bầu dục đáng kính Jerry Sandusky (Đại học Penn State). Thủ đoạn của Sandusky là mỗi lần đưa một hay hai cậu bé về nhà, chăm sóc như con rồi sau đó lạm dụng tình dục.

Dư luận vô cùng phẫn nộ với hành vi của Sandusky. Nhưng đồng thời, vợ của Sandusky là bà Dorothy cũng hứng chịu búa rìu chỉ trích dù là người ngoài cuộc và không hề có tội.

Có tội, độc ác, hay bàng quan là những từ công chúng dùng để chỉ trích bà Dorothy. Những lời buộc tội xoay quanh mấy điểm: Tại sao chồng bỗng dưng đưa mấy đứa trẻ về nhà để chăm sóc mà bà không có ý kiến hay mảy may nghi ngờ? Chuyện xâm hại diễn ra ngay trong nhà thì làm sao bà lại không biết? Sao bà không cảm nhận được ham muốn tình dục bất thường của chồng?

Trong nhiều vụ xâm hại tình dục trẻ em, công chúng đôi khi quá phẫn nộ, muốn trút giận lên cả gia đình và người thân của người phạm tội. Một tâm lý khác là sốt ruột khi tiền lệ bản án dành cho kẻ có tội trong những vụ án tương tự còn quá nhẹ; nhiều người chĩa mũi dùi vào gia đình kẻ có tội, cho mình quyền “thay trời hành đạo”.

Xã hội Việt Nam cũng đang dậy sóng với vụ việc ông Nguyễn Hữu Linh sàm sỡ bé gái trong thang máy chung cư Galaxy ở TP. Hồ Chí Minh. Hai chữ “Ấ Dâm” (ấu dâm) viết lên cổng nhà ông Linh cho thấy sự phẫn nộ với hành vi của người đàn ông 61 tuổi.

Đám đông thì nhiệt thành, nhưng điều đó có mang lại công lý hay không lại là chuyện khác.

Cần những cái đầu lạnh

Chuyên gia tâm lý học người Mỹ Seth Meyers đã nhận định về vụ lạm dụng tình dục trẻ em của HLV Sandusky: “Những kẻ ấu dâm hay nói đúng hơn là những kẻ có tội, mới đáng bị lên án, không phải vợ hay gia đình họ”.

Những người viết chữ lên cánh cổng hay xịt sơn, ném mắm thối vào nhà ông Linh rất có thể sẽ lý giải hành động của mình xuất phát từ sự bức xúc trước hành vi dâm ô đối với bé gái.

Có thể họ sẽ nói rằng mình mất kiên nhẫn vì cơ quan công quyền vẫn chưa khởi tố ông Linh. Cũng có thể dư luận đang lo sợ hành vi này cũng sẽ chỉ bị phạt 200.000 đồng như anh chàng “cưỡng hôn” cô gái trong thang máy trước đó không lâu, hay tệ hơn, sự việc rồi sẽ bị “chìm xuồng”.

Xét trên phương diện cảm xúc, đám đông không hề sai. Thế nhưng, đứng trên góc độ luật pháp, những hành động trên của đám đông đối với nhà ông Linh rõ ràng là không đúng.

Đây là lúc đang rất cần những cái đầu lạnh hơn là những trái tim quá thiên về cảm xúc.

Trong bối cảnh này, điều dư luận đang trông chờ là cơ quan công quyền cần nhanh chóng kết luận có đủ chứng cứ để truy tố ông Linh không.

Nếu có tội, đương nhiên ông Linh phải bị xử lý theo luật pháp. Trong trường hợp luật pháp Việt Nam xử tội quấy rối trẻ em còn nhẹ, chưa thỏa đáng với khái niệm công lý của nạn nhân, thì các nhóm trong xã hội có thể vận động để thay đổi.

Nhờ đám đông gây sức ép nên công lý mới được thực thi? Đúng, và điều này đã có tiền lệ. Ví dụ như vụ ông Nguyễn Khắc Thủy dâm ô bé gái ở Vũng Tàu. Chỉ đến khi công luận vào cuộc, đám đông bày tỏ sự bất bình bằng nhiều hình thức, bản án dành cho ông Thủy mới tăng lên 3 năm tù giam từ án treo 18 tháng.

Công lý đám đông

Nhưng cũng không ít lần, tâm lý đám đông, quy chụp tội lỗi chính là nguồn cơn của bi kịch.

Tại Long An tháng 2 vừa rồi, một người cha bị tước mạng sống cũng bởi đám đông. Trong khi chơi ở công viên, do con trai không chịu về nhà nên người cha kéo tay và nạt đứa nhỏ. Một người phụ nữ bán vé số dạo thấy vậy, hô hoán “bắt cóc trẻ em”.

Ngay lập tức, một số thanh niên gần đó lao đến “ứng cứu”. Thay vì để người cha giải thích, nhóm người đánh đập rồi rút dao đâm chết anh.

Giữa năm 2018, trên WhatsApp – ứng dụng nhắn tin phổ biến nhất Ấn Độ với 200 triệu người dùng – lan truyền đoạn video quay cảnh một đứa trẻ bị cắt rời các bộ phận cơ thể và một giọng nói kêu gọi người xem chuyển tiếp video này cho người khác, đồng thời cảnh báo đề phòng những kẻ bắt cóc đang hoành hành ngoài xã hội. Đây thực tế chỉ là một đoạn phim được cắt ghép, không có thật.

Tuy vậy, những người dân ít lên mạng ở Ấn Độ không phân biệt được đâu là tin giả. Với sự phẫn nộ vốn đã có sẵn trong người bởi hình phạt không thích đáng dành cho thủ phạm trong những vụ cưỡng hiếp tập thể và bắt cóc trẻ em, người dân tiếp tục bị kích động rất mạnh bởi thông tin giả đó và tấn công bất kỳ ai mà họ nghi là kẻ bắt cóc. Khoảng 20 người đã bị đám đông đánh đập tới chết chỉ trong khoảng bốn tháng, trong đó có một cụ bà 65 tuổi và một nhân viên kỹ thuật của Google.

Trong năm 2018, có hơn 4.200 người bị giết ở Gauteng (một trong những tỉnh lớn nhất Nam Phi), trong đó hơn 80% bị đám đông ném đá, thiêu sống hoặc đánh đến chết do bị nghi ngờ ăn cắp hoặc hiếp dâm. Người dân không tin vào cảnh sát và cũng không tin luật pháp có thể trừng trị thích đáng những kẻ phạm tội nên tự mình ra tay. Đám đông ra tay nên việc truy cứu trách nhiệm khi có hậu quả là rất khó.

Không phải chịu hình phạt nào, nếu có cũng rất nhẹ nên “công lý đám đông” phát triển ở Nam Phi và châu Phi nói chung. Trong nghiên cứu về công lý và tâm lý đám đông ở châu Phi năm 2014, TS Emmanuel Yeboah-Assiamah (Đại học Stellenbosch, Nam Phi) chỉ ra rằng nguyên nhân của công lý đám đông chủ yếu là do sự thiếu tin tưởng vào pháp luật, tòa án, cảnh sát.

Theo nhiều nhà triết học, con người tiến hóa lên văn minh là nhờ “khế ước xã hội”: Những nhóm mâu thuẫn hoang dại quyết định thương lượng để xây dựng luật pháp, sao cho tự do của anh không xâm phạm đến tự do của tôi.

Luật pháp là một thành tựu lớn của loài người. Ngày nay xã hội trở nên rất phức tạp, việc thực thi luật pháp còn nhiều vấn đề, và luật pháp đương nhiên có thể thay đổi.

Thế nhưng, không một xã hội pháp quyền nào để công dân của mình tự tay thực thi luật lệ.

Gema Santamaría, nghiên cứu sinh ngành xã hội học (Đại học Harvard), đã đúc kết trong một bài viết: Công lý đám đông không phải là một biện pháp đẩy lùi tội phạm cũng như bảo vệ quyền công dân. Nó chỉ thể hiện sự yếu kém của bộ máy pháp quyền.

Ký tên lên tranh, khẩu chiến trên mạng và trách nhiệm của người nổi tiếng

Zing/VoicesĐỗ Thùy Linh 

Duy trì môi trường tranh luận lành mạnh, văn minh là trách nhiệm của mỗi người. Khi đã là người của công chúng, trách nhiệm đó càng nặng nề và cần được ý thức nhiều hơn.

Việc Đàm Vĩnh Hưng và Lệ Quyên trong đêm nhạc từ thiện “Tình nghệ sĩ”, theo yêu cầu của một mạnh thường quân, đã ký tên làm lem nhem bức tranh của họa sĩ Hứa Thanh Bình, gợi nhớ câu đối đáp kinh điển của Lizzy Bennet về sự kiêu căng của chàng Darcy trong cuốn tiểu thuyết Kiêu hãnh và định kiếncủa nữ văn sĩ người Anh, Jane Austen.

kytenlentranh

Hình minh họa: Phượng Nguyễn

Tình người nghệ sĩ

Cô bạn thân của Lizzy cho rằng Darcy có quyền kiêu hãnh, vì chàng trẻ tuổi, đẹp trai, xuất thân quý tộc, lại giàu có nữa. “Điều này là hoàn toàn đúng” – Lizzy trả lời – “Và mình có thể dễ dàng tha thứ cho lòng kiêu hãnh của anh ta, nếu anh ta không sỉ nhục lòng kiêu hãnh của mình”.

Darcy tự cho mình quyền khinh thường người khác, chê Lizzy xấu, xúc phạm lòng kiêu hãnh của đối phương bởi chàng có địa vị xã hội cao hơn Lizzy, cô gái trẻ chống đối áp lực cưới chồng giàu từ mọi phía.

Cũng như câu chuyện tình yêu nam nữ, cuộc chiến của những cái tôi có lẽ xưa như trái đất, nan giải, khó có bồi thẩm đoàn nào xử lý được, chỉ hy vọng vào sự minh triết của các bên.

Nhìn từ quan điểm của họa sĩ Hứa Thanh Bình, người đã khiêm tốn giấu tên, gửi bức tranh ngựa tham gia từ thiện, thì bức tranh là thành quả lao động, là đứa con tinh thần, là lòng kiêu hãnh của ông.

Lý giải cho hành động ký tên lên tranh, ca sĩ Vũ Hà phản biện rằng vì người mua tranh vui vẻ yêu cầu, các ca sĩ mới ký tên lên tranh.

Nói vậy không hề sai, nhưng cũng không đúng. Nếu ca sĩ biết trân trọng tiếng hát của mình, họ sẽ biết tôn trọng thành quả lao động và lòng kiêu hãnh của nghệ sĩ khác. Xét cho cùng, cái tên “tình nghệ sĩ” của đêm nhạc không chỉ ám chỉ tình cảm dành cho hai nghệ sĩ vắng mặt là Lê Bình và Mai Phương đang bị bệnh ung thư.

Cuộc tranh luận xung quanh chữ ký của ca sĩ đè lên tranh của họa sĩ cũng ám chỉ bài học cần rút ra về cái “tình” mà những nghệ sĩ nên dành cho đứa con tinh thần của nhau. Như vậy, câu trả lời cho phản biện của Vũ Hà là: Không, đáng ra dù có được yêu cầu, các ca sĩ cũng không nên làm như vậy.

Bức tranh xô bồ của thời đại 

Sau khi quả bóng trách nhiệm được đá sang sân của mạnh thường quân, ta có thể tiếp tục đánh giá yêu cầu của người mua tranh như thế nào?

Người mua tranh cũng có lòng kiêu hãnh đáng trân trọng. Lòng kiêu hãnh ở đây được thể hiện bằng đồng tiền, một khoản đáng quý có thể giúp cứu sống người khác. Đồng thời, mạnh thường quân cũng biết yêu nghệ thuật: Yêu hội họa nên khán giả mới bỏ ra 200 triệu đồng để mua tranh; và yêu âm nhạc nên mới mời các ca sĩ ký tên lên tranh…

Chỉ có điều, sự hưng phấn với nhiều loại tình yêu khác nhau đã khiến khán giả quên mất rằng tốt nhất không nên để hai tình yêu của mình gặp nhau, rồi chồng chéo xung đột. Vì khi làm như vậy, kết quả mà ta nhận được là sản phẩm tranh không ra tranh, chữ ký không ra chữ ký – một sự nhập nhằng vô giá trị.

Thực ra, nếu nhìn từ quan điểm của nghệ thuật đương đại, ta có thể phản biện rằng bức tranh nhập nhằng này là sản phẩm văn hóa thú vị, phản ánh được sự chật chội, xô bồ của thời đại.

Nếu vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là: Có phải đã đến lúc chúng ta nên coi nhau, coi những tương tác hàng ngày giữa người với người quan trọng hơn, là một hình thức nghệ thuật sống cao hơn, phức tạp hơn nghệ thuật theo cách hiểu từ trước đến nay không?

Nếu câu trả lời là có, việc kiểm soát lời ăn tiếng nói, giữ thể diện cho nhau, không để xung đột leo thang, sẽ là “bức tranh” cuối cùng, đẹp hơn cả. Và trách nhiệm, ý thức từ người của công chúng trong vấn đề này càng quan trọng hơn bao giờ hết.

Việc một họa sĩ đã dùng ngôn từ tục tĩu xúc phạm Đàm Vĩnh Hưng là sai. Thế nhưng, việc Đàm Vĩnh Hưng đưa ra lời xin lỗi thách thức kèm hình ảnh không đẹp trên Facebook là một cái sai khác. Hai cái sai không làm nên một cái đúng.

Hình ảnh “hòn bấc ném đi hòn chì ném lại” giữa những người của công chúng diễn ra trong bối cảnh mạng xã hội ở Việt Nam gần đây xuất hiện nhiều chủ đề tranh luận gay gắt, từ vấn đề dạy tiếng Việt như thế nào cho tốt, cho đến tình huống có tính tượng trưng cao là chữ ký của ca sĩ đè lên bức tranh của họa sĩ.

Vì phản ứng nhất thời thường làm nóng mặt các bên, nhiều người quan sát lo lắng rằng người Việt Nam không biết tôn trọng nhau, không có văn hóa tranh luận.

Mặc dù nhận xét này là chính đáng, đây không phải là vấn đề của riêng người Việt. Mạng xã hội đang làm đảo lộn nhiều giá trị, và tạo ra nhiều giá trị mới, lạ lẫm mà ngay cả ở Mỹ, quê hương của Facebook và nhiều mạng xã hội khác. Các công dân cũng bị cuốn vào những cuộc tranh luận rất bản năng, không bên nào chịu nghe bên nào.

Được coi là một trong những tên tuổi lớn của nền âm nhạc đương đại, sở hữu nhiều sản phẩm thành công và những tour diễn cháy vé, Taylor Swift là người có khả năng đối phó đám đông trên mạng xã hội.

“Nếu ai đó nói xấu bạn trên mạng, cách duy nhất để vượt qua nó là không quan tâm đến những gì họ nói”, Swift từng phát biểu.

Nữ ca sĩ nổi tiếng lựa chọn không đôi co, mà tập trung sáng tác. Trong album Reputation, cô khẳng định con người cũ của mình “đã chết” và thay vào đó là một Taylor Swift lạnh nhạt với những tin đồn, một thái độ nghệ thuật đáng học hỏi.

Tranh luận là tốt, nhờ tranh luận mà nhiều câu hỏi, vấn đề tri thức hóc búa được đưa ra ánh sáng. Tuy nhiên, cái cần trong mọi cuộc tranh luận là các bên phải thực sự lắng nghe luận điểm của nhau. Điều quan trọng của mọi cuộc tranh luận là cùng nhau tìm ra giải pháp, để không ai bị tổn thương. Vì xét cho cùng, chúng ta vừa khác lại vừa giống nhau: Ai cũng hướng thiện, yêu cái đẹp.

Duy trì một môi trường tranh luận lành mạnh, văn minh là trách nhiệm của mỗi người. Khi đã là người của công chúng, trách nhiệm đó càng nặng nề và càng cần được ý thức nhiều hơn.

 

 

Hình ảnh lãnh đạo nữ trên truyền thông “rất ảm đạm”

Capture

Một bài báo viết về các bộ áo dài của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Theo báo cáo của Oxform, báo chí Việt Nam đưa nhiều thông tin “bên lề” về lãnh đạo nữ hơn hẳn lãnh đạo nam, thể hiện định kiến giới. 

Theo một nghiên cứu được thực hiện gần đây, lãnh đạo nữ hiếm khi xuất hiện trên truyền thông Việt Nam, và khi xuất hiện phải gánh trên vai nhiều định kiến giới.  

Theo báo cáo được thực hiện vào năm 2016 của Tổ chức phi chính phủ Oxfarm, trong tổng số 3,429 lượt nhân vật là lãnh đạo được truyền thông trích dẫn, đưa tin hoặc phỏng vấn (trong 3 tuần của nghiên cứu), chỉ có 14.3% là người nữ.

Báo cáo có tựa đề “Báo chí và định kiến giới đối với lãnh đạo nữ” kết luận: Dù phản ánh đúng hiện thực hay không thì bức tranh về lãnh đạo nữ được gửi đến công chúng là hết sức ảm đạm.

Không chỉ ít xuất hiện mà khi xuất hiện, lãnh đạo nữ cũng chỉ chủ yếu hiện diện bên cạnh các chủ đề vốn được coi là dành cho phái nữ như y tế, giáo dục, môi trường, người cao tuổi, dân tộc thiểu số… Thậm chí trong hai vấn đề có tỉ lệ lãnh đạo nữ xuất hiện nhiều nhất là trẻ em/gia đìnhquyền nữ giới thì tỉ lệ này cũng chưa tới 50%.

Trong các vấn đề được coi là của nam giới như kinh doanh, ngoại giao, an ninh xã hội, quân đội hay khoa học kỹ thuật, số lượng lãnh đạo nữ được truyền thông đề cập đến càng ít hơn, nhiều nhất chỉ là 16.4% trong nội dung kinh doanh và 15.7% đối với chủ đề thuế.

Xét theo lĩnh vực công tác, lãnh đạo từ các cơ quan hành chính nhà nước xuất hiện nhiều nhất. 62.7% lượt lãnh đạo đến từ thành phần nhà nước. Tuy nhiên đây cũng chính là thành phần có tỉ lệ lãnh đạo nữ xuất hiện trên báo chí ít nhất: 9.8%. Đại đa số lãnh đạo nhà nước được trích dẫn, đưa tin, hay phỏng vấn đều là nam giới.

Định kiến giới còn thể hiện trong việc báo chí đưa nhiều thông tin “bên lề” về lãnh đạo nữ hơn hẳn lãnh đạo nam. Những thông tin này liên quan đến hình thức bên ngoài và việc nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình của lãnh đạo nữ. Thông điệp được truyền tải thường là các lãnh đạo nữ “giỏi việc nước, đảm việc nhà” và được chồng hậu thuẫn nên mới thành công như vậy.

Theo báo cáo của Oxfarm, định kiến giới trong nội dung báo chí phản ánh chính xác hoàn cảnh gia đình và nhận thức của các nhà báo. Đa số các nhà báo cho rằng người nữ nên ưu tiên xây dựng gia đình, còn nam giới nên ưu tiên phát triển sự nghiệp. Chỉ 27% cho rằng sự nghiệp nên là ưu tiên hàng đầu của nữ giới.

Các nhà báo cũng đánh giá nam giới có “bản lĩnh” và thích hợp với vai trò lãnh đạo hơn nữ giới. Mặt khác, nữ giới “ôn hòa” – thân thiện, khéo léo, cư xử nhẹ nhàng, chu đáo và dễ thông cảm – hơn nam giới. Tuy nhiên, những phẩm chất “ôn hòa” này lại được cho là có ảnh hưởng tiêu cực đến công việc lãnh đạo cần sự tự tin, quyết đoán (thường thấy ở nam giới).

Báo cáo cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất tin bài. Ngoài ảnh hưởng nhiều khi là vô thức của nền tảng văn hóa của cá nhân các nhà báo, các nhà báo còn chịu một sức ép rất lớn từ phía độc/khán/thính giả. Đa số các nhà báo đưa tin chứa nhiều định kiến giới với mục đích thu hút độc giả.

Quan niệm truyền thống cứng nhắc cản trở nữ giới Việt Nam

Theo một nghiên cứu quy mô được thực hiện từ năm 2012 đến 2015 của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, những quan niệm truyền thống cứng nhắc về giá trị và vai trò của nam và nữ là nguyên nhân cơ bản gây ra bất bình đẳng giới ở Việt Nam. Mặc dù quan hệ giới trong xã hội đã được cải thiện nhiều, trong những năm gần đây, tiến bộ bình đẳng giới ở Việt Nam trở nên chậm chạp, trì trệ, và thậm chí thụt lùi.

Theo nghiên cứu có tựa đề “Các yếu tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam”, mọi tầng lớp trong xã hội vẫn cho rằng nữ giới sinh ra để chăm sóc gia đình, còn nam giới được tự do làm tất cả những việc khác. Người nữ phải chịu nhiều gánh nặng và thiệt thòi trong tất cả các lĩnh vực được khảo sát như giáo dục, nghề nghiệp và việc làm, phân công lao động và ra quyết định trong gia đình, sở hữu tài sản…

Ví dụ, trong lĩnh vực nghề nghiệp và việc làm, hơn 20% số nữ giới được khảo sát không làm việc ngoài xã hội vì phải chăm sóc gia đình so với tỷ lệ 2% ở nam giới. Trong phân công lao động và ra quyết định trong gia đình, nữ giới thực hiện 12 trong số 14 việc nhà, từ nấu ăn cho đến chăm sóc người già, người ốm. Về sở hữu tài sản, chỉ 1/5 nữ giới sở hữu nhà hoặc đất thổ cư trong khi hơn một nửa nam giới là chủ sở hữu duy nhất đất thổ cư hoặc nhà.

Những người nữ khác sống giữa truyền thống và truyền thông

emma-watson-tim-walker-march-2017-ss09

Emma Watson lộ ngực trong một bức ảnh gây tranh cãi trên trang bìa số tháng 3 của tạp chí Vanity Fair. Ảnh: Tim Walker/Vanity Fair.

Nhìn cuộc sống theo quan điểm của nam giới, nữ giới ngày nay hay lên gân về các giá trị như tự do khoáng đạt, đấu tranh thoát khỏi kìm kẹp để được là chính mình. Tuy nhiên kết quả thường thấy là họ nhảy từ thái cực truyền thống sang truyền thông và trở thành những khuôn mặt na ná nhau, thiếu sự đa dạng.

Trước khi phê bình, ta cũng phải thừa nhận rằng nữ giới đang bị đặt vào thế khó. Nói một cách nôm na, sống trong thời đại này, họ là cô gái Hồi giáo vừa đấu tranh giành được quyền bỏ mạng che mặt ra cho dễ thở một chút, chưa kịp định thần, định nghĩa mình là ai thì khuôn mặt của cô đã bị lọt ngay vào ống kính camera lan tràn và thô thiển của phương Tây.

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa

Chúng ta đang sống trong thời đại của truyền hình thực tế, của mạng xã hội, của truyền thông và ống kính máy quay có mặt ở khắp mọi nơi. Truyền thông quảng bá cho những cái nhỏ bé. Một sáng chủ nhật, tôi đi bộ quanh Hồ Gươm và tình cờ nhìn thấy một đôi bạn đang chụm đầu vào nhau cùng dán mắt vào máy ảnh. Họ nhìn gì mà chăm chú thế? Tôi nhìn theo và thấy họ đang cố gắng chụp ảnh bàn chân mình.

Bàn chân tưởng chừng rất bình thường, nhưng khi được chụp lại bằng máy ảnh, những kỹ thuật về màu sắc, khuôn hình… sẽ làm cho hình ảnh đẹp hơn, quan trọng hơn. Và nếu đôi bạn về nhà đưa hình lên Facebook và được nhiều bạn bè “like”, thì đó có lẽ là mục đích cuối cùng của họ: chụp lại hiện thực không hẳn vì bản thân hiện thực, mà vì cảm giác mình có tài và có người hâm mộ.

Trong thời kỳ có nhiều cấm đoán, việc soi rọi vào những con người, sự vật sự việc bình dị là một tâm thức nhân văn. Nó giúp đưa ra ánh sáng bất công, giúp nâng vị thế của người thấp cổ bé họng, giúp con người khám phá ra những bí mật quan trọng của tự nhiên…

Tuy nhiên, dường như chúng ta đang sống trong một thời kỳ quá độ, như đứa trẻ mới lớn vừa nếm mùi tự do, chưa đủ khả năng sử dụng tự do của mình nên có xu hướng nhảy từ thái cực này sang thái cực ngược lại. Nói một cách khác, nguy cơ của thời đại này là quan trọng hóa những cái thực sự…quá…nhỏ bé.

Nữ giới, tầng lớp thấp cổ bé họng bị áp bức bấy lâu, càng khó tránh khỏi cạm bẫy của truyền thông. Cô gái nào cũng có những bức ảnh avatar đẹp lung linh để tự khẳng định mình. Đẹp để lên hình, rồi xem hình của mình để cảm thấy hưng phấn và cố gắng đẹp hơn. Nhu cầu lên hình phổ biến đến mức khuôn mặt của các cô đều đẹp, nhưng là đẹp theo một kiểu giống nhau.

Giống nhau ở chỗ đấy là vẻ đẹp có thể lên hình. Cuộc sống mất đi sự kỳ bí khi con người sống quá duy lý và tin rằng mọi cái đều có thể đưa ra ánh sáng. Có những cái không dễ dàng, thậm chí không bao giờ có thể nắm bắt hay “chụp” lại được thì sao? Càng cố gắng theo đuổi thì chúng ta chỉ càng tìm thấy phiên bản của chính mình mà không phải một hiện thực lớn hơn nào đó? Huống hồ trình độ công nghệ và hình ảnh của phương Tây có giới hạn và rất dễ được dùng để phục vụ cho sự kỳ thị chủng tộc như đề cao một kiểu đẹp nhất định: da trắng, mắt to, mũi cao…

Một ví dụ về kiểu đẹp của người nữ phương Tây được tung hô trên truyền thông mà nhiều người nữ trên thế giới đang cố gắng theo đuổi là bức ảnh khoe ngực gây tranh cãi gần đây của diễn viên từng là nhí nhưng nay đã 26 tuổi của loạt phim Harry Potter nổi tiếng, Emma Watson.

Bức ảnh đẹp và chuyên nghiệp trên trang bìa số tháng 3 của tạp chí Vanity Fair chụp “cô phù thủy” Anh Quốc mặc trang phục màu trắng nửa kín nửa hở để tôn vinh bộ ngực và cơ thể gợi cảm của cô.

Bức ảnh này sẽ chỉ như bao bức ảnh gợi cảm câu khách khác của các tạp chí thời trang và giới “showbiz” nếu Emma Watson không phải là một “nhà nữ quyền” (“feminist”).

Cựu nữ sinh ngành Văn học Anh của Trường Đại học Brown danh tiếng là Đại sứ thiện chí của Liên hợp quốc vận động cho vấn đề bình đẳng giới và quyền của người nữ. Năm 2014, Emma Watson có một bài phát biểu khá nổi tiếng cho Chiến dịch HeForShe kêu gọi nam giới đứng lên đấu tranh chống bất bình đẳng giới. Trước khi được bổ nhiệm, cô cũng đã tham gia vận động cho các em gái được đến trường ở Bangladesh và Zambia.

Về danh nghĩa của Emma thì là như vậy, nhưng nữ quyền là gì mà lại phản đối bức ảnh khoe ngực được chụp khá nghệ thuật của cô? Những ai quen thuộc với phản biện của nữ quyền đều biết rằng có một vấn đề quan trọng ở đây là hiện tượng đồ vật hóa cơ thể người nữ.

Trong xã hội gia trưởng, người nữ dễ trở thành công cụ hay biểu tượng phục vụ nhu cầu tình dục của đàn ông. Tổng thể danh tính phức tạp, đa chiều của một con người bị tối giản thành một món đồ dẹt lét, một chiều, tùy tay người thao túng.

Trong văn hóa đại chúng hiện nay, những sản phẩm khiêu dâm, hoặc những hình ảnh quảng cáo phơi bày cơ thể nữ lý tưởng/không tưởng là ví dụ về hiện tượng này. Kể cả khi những sản phẩm này có giá trị kỹ thuật hoặc nghệ thuật, thì các giá trị này thường thể hiện nhân sinh quan được đúc kết qua nhiều năm của nam giới.

Cái khó và cũng là giới hạn của nữ quyền do các minh tinh đại diện – đặc biệt là những nữ ca sĩ, diễn viên da trắng, xinh đẹp, có điều kiện ở các nước phương Tây – là đặc thù công việc của họ. Họ có thể thực lòng đồng cảm và đấu tranh cho những người nữ đói khổ bị bạo hành ở đâu đó trên thế giới nhưng khi cần phải quay phim chụp ảnh, họ vẫn sẽ phải đáp ứng yêu cầu của công việc.

Về phần mình, Emma Watson có câu trả lời cho những người chỉ trích cô. Trong một cuộc phỏng vấn với Reuters, cô phản biện: “Nữ quyền là trao cho nữ giới quyền lựa chọn. Nữ quyền không phải là một cái gậy dùng để đánh những người nữ khác. Nữ quyền là tự do, là giải phóng, là bình đẳng. Tôi thực sự không hiểu vú của tôi thì liên quan gì ở đây. Vấn đề này hết sức khó hiểu.”

Nữ quyền là khác biệt

Nhiều người nữ Việt Nam, trong quá trình thể hiện sự tự tin và hưng phấn của mình, nếu gặp phải chỉ trích, đặc biệt từ những người nữ khác, cũng thường đưa ra luận điểm này: rằng họ có quyền, rằng những người nữ khác chỉ đang ghen tị với họ… Hiểu như Emma Watson quả thật không sai. Đúng, nữ quyền là tự do, là giải phóng, là bình đẳng. Và nữ giới đặc biệt không nên vì đố kỵ mà “ném đá” nhau.

Tuy nhiên, hiểu như vậy là chưa sâu sắc. Có một giá trị khác mà nữ giới nên nhấn mạnh khi nói về nữ quyền bên cạnh tự do bình đẳng. Đó là sự khác biệt. Emma Watson có thể tự do là bất cứ ai mà cô muốn, cô có thể thể hiện sự bình đẳng trong tình dục với đàn ông bằng việc chủ động chụp ảnh khỏa thân của mình, nhưng nếu làm như vậy, cô chưa đặc sắc và khác biệt. Cô sẽ giống đàn ông, và giống nhiều người nữ phương Tây da trắng xinh đẹp thành công khác – những người mà khi nói đến tự do là thường chỉ hình dung ra tự do tình dục.

Còn những loại tự do khác thì sao? Ví dụ như tự do không thích bị chụp ảnh, tự do không thích tình dục? Tự do của một người nữ khi nghĩ đến hình ảnh khiêu dâm là nghĩ đến tổn thương của việc bị lạm dụng trong quá khứ? Hay thậm chí những người nữ bị ung thư vú, đã phải cắt bỏ hai bên vú nên không cần ai phải nhắc cho họ nhớ là cơ thể họ không còn nguyên vẹn nữa?

Những giá trị nữ mà Emma Watson quảng bá thông qua bức ảnh gây tranh cãi kia là những giá trị của văn hóa phương Tây. Trong thời đại mà phương Tây thống trị, thì những cái nhỏ, khác biệt, đại diện cho các nền văn hóa ở các phương trời khác nên được chú trọng.

Xét trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực hành, ta khó có thể tìm thấy những khuôn mặt nữ thực sự khác biệt nhờ truyền thông. Thứ nhất là vì số lượng quá nhiều. Có hàng tỉ người nữ, hàng tỉ con người hàng ngày sống cuộc sống thú vị của riêng họ chứ không phải chỉ các ngôi sao mới có cuộc sống thú vị. Thứ hai, về mặt bản chất, như tôi nói ở trên, có những cái đẹp không thích lên hình, không thể lên hình, không bao giờ lên hình, chỉ đơn giản vì chúng là những cái đẹp “khác” hình. Tuy nhiên không lên hình không có nghĩa là không tồn tại. Rất nhiều người nữ mạnh mẽ khác biệt tồn tại ở đâu đó giữa truyền thống và truyền thông. Họ đấu tranh chống lại mạng che mặt nhưng họ không phải là diễn viên.

Thất bại cay đắng của Hillary Clinton và khuyến cáo về văn hóa mạng

1

Bà Hillary Clinton trong thời gian tranh cử. Ảnh: Trang Facebook của bà Clinton, www.facebook.com/hillaryclinton/.

Thất bại của một nữ chính khách ở Mỹ đã chỉ ra rằng hành trình tìm kiếm sự bình đẳng nam nữ vẫn còn rất gian nan, đặc biệt là trên mạng.

Nhiều người nữ đã khóc khi nghe tin bà Hillary Clinton thất bại trước ông Donald Trump trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng Mỹ ngày 8 tháng 11 vừa qua.

Không chỉ ở Mỹ mà nữ giới ở nhiều nơi trên thế giới đã rất buồn và tức giận vì thất bại của bà Clinton thật cay đắng. Cuộc đối đầu giữa bà và ông Trump diễn ra cứ như hai người là nhân vật chính diện và phản diện trong một bộ phim.

Cái cay đắng trong thất bại của bà Clinton nằm ở chỗ bà là người nữ đầu tiên được một đảng quan trọng lựa chọn để tranh cử tổng thống Mỹ, và người thắng bà không ai khác lại là một người đàn ông nổi tiếng là coi thường nữ giới (bên cạnh những quan điểm bảo thủ khác), một người mà nhà báo David Remnick của tạp chí The New Yorker gọi là “sự thô thiển không có giới hạn”.

Xét ở một số điểm liên quan đến nữ giới, tỉ phú bất động sản Donald Trump có ba đời vợ và được nhiều người biết đến trong vai trò nhà tổ chức các cuộc thi hoa hậu lớn (ông Trump đã bán Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ cho tập đoàn WME/IMG vào tháng 9 năm ngoái khi bắt đầu tranh cử). Ông Trump thường hay xúc phạm nữ giới bằng những bình phẩm phản cảm về hình thức của họ. Trong một đoạn phim bị rò rỉ trong thời gian tranh cử, ông Trump tục tĩu khoe khoang về việc có thể sờ soạng nữ giới thỏa mái chỉ đơn giản vì ông là người nổi tiếng. Sau đó nhiều người nữ đã lên tiếng tố cáo ông Trump từng quấy rối họ.

Dù không hoàn hảo, bà Clinton là một chính trị gia có năng lực và xứng đáng với vị trí tổng thống Mỹ hơn ông Trump. Chiến thắng của bà đã có thể đem lại niềm cảm hứng lớn cho nữ giới khắp nơi trên thế giới. Thế nhưng bà vẫn thất bại. Mặc dù có nhiều nguyên nhân giải thích chiến thắng của ông Trump (ví dụ: Đa số người Mỹ da trắng ủng hộ ông Trump vì ông này hứa sẽ mạnh tay với người nhập cư, củng cố an ninh biên giới và xem xét lại các cam kết quốc tế của Mỹ để bảo vệ kinh tế Mỹ), kết quả của cuộc bầu cử vẫn chỉ ra một điểm mấu chốt: Sau khi bầu một tổng thống da đen đầu tiên trong lịch sử, nước Mỹ vẫn chưa đưa nổi một người nữ lên để phần nào bù đắp cho lịch sử bất bình đẳng giới.

Có thể nói cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ là một ví dụ về sự thất bại của nữ quyền. Đối với những người tự cho là “cấp tiến” ở Mỹ, một việc thực sự cấp tiến là bầu một người nữ đầu tiên lên làm tổng thống không quan trọng bằng những bất đồng chính trị của họ đối với bà Clinton (bà Clinton bị cho là quá bảo thủ, hiếu chiến với những quan điểm như ủng hộ cuộc chiến của Mỹ tại Irắc). Còn đối với hơn một nửa số nữ giới da trắng đã bầu cho ông Trump thay vì bà Clinton – một người nữ như họ – thì hành động của họ được xem là một sự phản bội đối với nữ giới.

Ở mức độ cá nhân, tôi cảm nhận được rất rõ hai yếu tố, một thiên về lý trí, một thiên về tình cảm làm trầm trọng thêm bất bình đẳng giới hiện nay. Ví dụ, khi tôi nói chuyện với các bạn trai nước ngoài về chính trị Mỹ, họ đưa ra luận điểm: Bây giờ nam nữ đã bình đẳng rồi, đặc biệt trong suy nghĩ của những người có học như họ, thì làm gì có chuyện họ kỳ thị nữ giới nữa. Với luận điểm này, tôi chỉ hỏi: Có thật như vậy không? Có lẽ những người đàn ông “cấp tiến” này đánh giá quá cao sự khách quan của mình, vì nếu nam nữ đã bình đẳng rồi thì sao đến tận bây giờ nước Mỹ vẫn chưa có nổi một nữ tổng thống?

Luận điểm thứ hai tôi thường nghe khi chuyện trò với nữ giới Việt Nam. Mỗi khi tôi phê phán tư duy gia trưởng, các bạn gái của tôi lại phản ứng: Nhưng mình không ghét đàn ông! Có vẻ nữ giới rất sợ trở thành bà cô già xấu xí hận đàn ông nên rất cẩn thận trong việc chứng tỏ rằng mình không ghét đàn ông. Thực ra những người nữ đấu tranh cho bình đẳng giới không ghét cá nhân người đàn ông này hay người đàn ông khác. Cái họ làm chỉ đơn giản là phê phán bất công. Năng lực phê phán là cần thiết và liên quan đến trí tuệ, không phải là cảm xúc thù địch cá nhân.

Ngày nay, cả nam và nữ, đặc biệt là các bạn trẻ, thường chủ quan cho rằng chúng ta đang sống trong một môi trường trung tính, bình đẳng. Họ không hiểu rằng lịch sử bất bình đẳng giới đã kéo dài hàng nghìn năm và đã ăn sâu vào tư tưởng con người, còn phong trào giải phóng và những giá trị mới về nữ giới chỉ mới hình thành một cách có hệ thống trong khoảng hai thế kỷ gần đây.

Sự tự tin về mặt trí tuệ, thường thấy ở nam, rằng mình đã khách quan lắm rồi, và cái tôi tạm gọi là tình yêu vô điều kiện, thường thấy ở nữ, dành cho đàn ông, gặp nhau trong một môi trường lý tưởng: mạng Internet. Khi luồng tư tưởng và cảm xúc này gặp nhau trên mạng, môi trường mạng tưởng chừng trong sáng, khách quan rất dễ góp phần xí xóa ranh giới đúng sai, cổ xúy cho chủ nghĩa tương đối thô thiển và tiếp tay cho bất công.

Thật vậy, chiến dịch tranh cử của ông Trump được lợi rất nhiều nhờ mạng. Ông Trump tận dụng mạng xã hội để kết nối với người dân, xây dựng độc giả cho những ý kiến mang đậm cảm xúc cá nhân, gây xúc phạm đến nhiều người của mình. Nhiều thông tin sai về bà Clinton từ nhiều nguồn khác nhau đã được tung lên mạng, đặc biệt là Facebook, ảnh hưởng đến hình ảnh vốn có phần xa cách của bà trong lòng công chúng. Về phần Facebook, mạng xã hội này là điển hình của luồng tư duy và tình cảm tưởng chừng khách quan, trong sáng mà tôi nói đến ở trên. Sau khi bị chỉ trích là thiên vị cánh tả, Facebook đã sa thải đội ngũ biên tập thông tin cho mục Trending và giờ chỉ dựa vào thuật toán để sàng lọc tin tức nóng cho người dùng. Tuy nhiên thuật toán chỉ là thuật toán nên không đủ tinh tế để phân biệt thật giả hay những ẩn ý đạo đức đằng sau các quan điểm.

Một ví dụ về cái tưởng chừng là trung lập khách quan của mạng mà tôi quan sát gần đây xuất hiện trên một diễn đàn của các bạn trẻ Việt Nam. Trên diễn đàn này dấy lên một cuộc tranh luận về nữ quyền nhân Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10. Ban quản trị mạng đăng một bài viết bài xích nữ quyền để mọi người tranh luận. Tất nhiên bài viết (của một bạn nam) cũng nhận được những phản hồi đanh thép, kịp thời của các bạn nữ. Trước đó tôi có theo dõi diễn đàn này, nhưng sau sự việc này tôi đã bỏ theo dõi vì không đồng tình với chủ đề tranh luận của diễn đàn.

Mặc dù tôi tôn trọng ý định tốt của diễn đàn và hiểu rằng mọi người ngày nay thường tung hô việc đưa thông tin hai chiều, tương đối chủ nghĩa như tiêu chuẩn lý tưởng nhất, tôi cho rằng thái độ có vẻ cởi mở, khách quan này trở nên vụn vặt trước những lịch sử và bất công lớn, ví dụ như lịch sử bất bình đẳng giới.

Các bạn nam thì tôi không nói, vì quan điểm ở mức cực đoan thì chỉ đơn giản là khác biệt, hai bên không thể tranh luận thêm, nhưng đối với các bạn nữ, đến bây giờ mà các bạn gái vẫn còn mất thời gian tranh luận, đặc biệt với nam giới, về việc nữ giới có giỏi bằng nam giới hay không sao? Đến bây giờ chúng ta vẫn phải chứng minh rằng nếu xưa nay nữ giới không đạt được những thành tựu ngang với nam giới thì không phải vì bộ não của nam nữ có khác biệt gì lớn, mà chỉ đơn giản là vì thể chế xã hội kìm hãm nữ giới, không cho phép họ phát huy hết tiềm năng của mình hay sao?

Sau thắng lợi của ông Trump, với tư cách là người nữ, khi lên mạng, tôi tự nhắc mình phải cẩn thận hơn khi tiếp nhận thông tin. Tôi không muốn mất thời gian tranh luận với nam giới về những vấn đề liên quan đến nữ giới nữa. Và đối với những thông tin khác, kể cả những nghiên cứu khoa học tự nhiên, những tư duy triết học sâu sắc được đúc kết từ nghìn đời nay mà mọi người nghiễm nhiên coi là chân lý, là trung tính, là khách quan, tôi cũng phải cẩn thận đánh giá trong giới hạn khả năng của mình xem chúng có dựa trên những giả thiết gia trưởng nào đó hay không. Làm được như vậy là tôi đang cố gắng làm một việc mà Facebook không làm: Đó là dùng bộ óc và trái tim, dù không hoàn hảo của cá nhân mình, để sàng lọc thông tin, chứ không phải dựa vào tư duy toán học máy móc, có xu hướng đơn giản hóa vấn đề mà trong nhiều trường hợp thì hữu ích, nhưng trong nhiều trường hợp khác liên quan đến sự phức tạp của con người thì lại gián tiếp tiếp tay cho bất công.

Đi tìm khuôn mặt cho người nữ

Eva.vn 31/10/2016 – Thái độ nửa tếu táo, nửa tự tin về phẫu thuật thẩm mỹ ngày nay đang tước đi danh tính vốn mong manh của người nữ. 

girl-before-a-mirror

Girl Before A Mirror, bức tranh vẽ năm 1932 của Pablo Picasso. Hình minh họa: www.pablopicasso.org.

Tôi thường đến bệnh viện đông y gần nhà để xông mặt bằng lá thuốc. Ở đó tôi gặp một số chị em đã trải qua phẫu thuật thẩm mỹ, chủ yếu là sửa mũi.

Có chị nói rất vui: “Chị vừa đi sửa mũi về, chẳng may va vào cánh cửa buồng tắm. Thế là chị nghĩ, ối dời ơi, hỏng mất mũi rồi. Nhưng hóa ra không sao. Đấy, phẫu thuật cấu trúc đắt tiền nên tốt thế đấy!”

Thời nay chị em nói về phẫu thuật thẩm mỹ, về việc sửa đi sửa lại các bộ phận trên khuôn mặt mình một cách thản nhiên như thể cơ thể chúng ta là một cái máy có thể tháo ra lắp vào dễ dàng.

Mà chưa cần nói đến phẫu thuật thẫm mỹ, nữ giới thời nay, với tất cả những vướng bận về son phấn và thời trang, hình như hơi quá mau lẹ trong việc chán ghét cơ thể mình.

Tôi có một cô bạn xinh xắn và giản dị. Bạn tôi không bao giờ trang điểm. Thế nhưng thay vì ở thế chủ động vì luôn sống với bộ mặt tự nhiên như của đứa trẻ khi lọt lòng mẹ, bạn tôi lại bị đẩy vào thế bị động tự ti vì thường ra đường với khuôn “mặt mộc”.

“Mặt mộc”! Ngôn ngữ bây giờ rất dí dỏm, sáng tạo. Mặt tôi bây giờ không còn là mặt tôi nữa mà là “mặt mộc”. Và các cô gái quen dùng son phấn mỗi khi nói về lựa chọn đi đâu với khuôn “mặt mộc” là như đang nói về một quyết định lớn lao. Như thể sống đơn giản, gần với cơ thể mình, gần với tự nhiên giờ đây trở thành một thành tựu. Nếu vậy thì thực sự con người đã xa rời bản thể của mình, cuộc sống đã trở nên quá nhân tạo, quá giả dối rồi.

Cái đẹp dựa trên thành tựu của khoa học công nghệ

Tuy nhiên nói một cách công bằng, những gì nhân tạo không hẳn là giả dối. Trong trường hợp phẫu thuật thẩm mỹ, chị em có thể tự tin về sắc đẹp dao kéo đều là nhờ những thành tựu đáng nể của khoa học công nghệ. Khoa học công nghệ thực sự đã phát triển rất mạnh để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người.

Khoa học công nghệ ngày nay còn có thể làm hơn phẫu thuật thẩm mỹ nhiều. Ví dụ, giữa tháng 9 vừa rồi, truyền thông trong và ngoài nước đưa tin về một thí nghiệm thành công trên chuột mở ra viễn cảnh một ngày nào đó, đàn ông có thể đẻ con mà không cần trứng của người nữ.

Thí nghiệm này đã khiến một tờ báo lá cải nổi tiếng hứng khởi giật tít là các nhà khoa học làm người nữ trở nên thừa thãi! Tuy có đề cập đến việc thí nghiệm có thể gây tranh cãi, bài báo không phân tích những phản biện liên quan đến câu hỏi liệu khoa học nên can thiệp đến đâu vào tự nhiên.

Thế mà trước đó không lâu, trong một bài báo khác đưa tin về một khám phá tương tự nhưng mở ra viễn cảnh ngược lại, tức là người nữ có thể sinh con mà không cần đàn ông, thì tờ báo này lại dùng một dòng tít thể hiện sự hoài nghi và trích dẫn nhiều ý kiến phản đối sự can thiệp thái quá của khoa học vào cơ thể con người.

Nói như vậy là để cảnh giác độc giả nữ khi đọc báo: Những ứng dụng có thể ảnh hưởng đến danh tính người nữ có thể được dễ dàng chấp nhận hơn những gì có khả năng gây tổn hại đến vai trò của đàn ông.

Sự bất cân đối, không hoàn hảo mới là cái gốc của tự nhiên

Quay trở lại vấn đề sắc đẹp, nguyên nhân chính khiến nữ giới phẫu thuật thẩm mỹ, sử dụng son phấn hay xe xua quần áo là mặc cảm mình chưa đủ đẹp, mình xấu. Thực sự tự nhiên có phân định xấu đẹp không? Hay tất cả chỉ là những giá trị nhất thời mà xã hội con người dựng lên?

Quả thật, trong quan điểm thẩm mỹ của con người về cái đẹp, ta thường thấy một tiêu chí là sự hài hòa cân đối và đây đúng là một đặc tính phổ biến của tự nhiên.

Ví dụ, khuôn mặt người có hai mắt hai tai chia đều hai bên. Đấy là sự cân đối. Tuy nhiên tự nhiên cũng rất sâu sắc. Nếu nó có một quy luật về sự cân đối để loài người dựa vào đó mà xây dựng nền nghệ thuật và thẩm mỹ của mình, thì nó cũng có một quy luật lớn hơn, cơ bản hơn sự cân đối. Đó chính là quy luật về sự không cân đối.

Louis Pasteur, nhà bác học tài năng đã tìm ra vắc-xin phòng dại được biết đến như là “cha đẻ của ngành vi sinh vật học”, là người đầu tiên đề xuất rằng vũ trụ không cân đối. Ông đưa ra kết luận này sau khi phát hiện ra cấu trúc bất đối xứng của phân tử tinh thể trong lĩnh vực hóa học.

Hiện nay khoa học cũng chưa thực sự giải thích được tại sao vũ trụ không cân đối. Tại sao có nhiều vật chất hơn phản-vật chất ngay sau vụ nổ Big Bang sinh ra vũ trụ? Tại sao tất cả các sinh vật trên Trái đất đều sử dụng L-axit amin (axit amin “thuận tay trái”) để cấu thành protein chứ không phải axit amin “thuận tay phải”?

Cơ thể người nhìn bề ngoài thì cân đối nhưng bên trong thì ngược lại. Các cơ quan đầu não đều được sắp xếp một cách bất cân đối: Tim, dạ dày, lá lách và tuyến tụy nằm bên trái; túi mật và phần lớn của gan nằm bên phải. Hay như phổi trái của chúng ta có hai thùy, trong khi phổi phải có ba.

Trực giác và kinh nghiệm sống cũng có thể dạy chúng ta rằng cuộc sống này làm gì có cái gì hoàn toàn cân đối hay hoàn hảo? Và như vậy thì tại sao chúng ta phải giãy giụa, cố gắng ngoi lên, cố gắng thay đổi mà nhiều khi là trong vô vọng cái không cân đối, không hoàn hảo, cái “xấu” mà cũng chính là cái gốc của chúng ta?

Trả lại sự trong sáng cho tuổi thơ

Hồi cấp 1 tôi có một cô bạn thân. Chúng tôi cùng đi học thêm, cùng đọc truyện tranh, cùng xem phim và thảo luận về trường lớp. Một lần, trong giờ giải lao, cô bạn tôi hồn nhiên hỏi thầy giáo chủ nhiệm: “Thầy ơi, trong lớp mình bạn gái nào xinh nhất hả thầy?” Thầy chủ nhiệm trả lời rất người lớn và rộng lượng: “Thầy thấy trong lớp mình bạn gái nào cũng xinh!” Bạn tôi hỏi tiếp: “Kể cả cái Linh hả thầy?”

Khi nghe bạn gái ám chỉ rằng mình xấu, cô bé 9 tuổi là tôi lúc đó đã nghĩ gì? Cô bạn tôi không bao giờ biết được rằng câu nói đó đã làm tổn thương tôi như thế nào. Trước đó tôi chưa bao giờ nghĩ mình xinh hay xấu, chưa bao giờ ý thức về khuôn mặt của mình.

Nhiều năm sau gặp lại, cô bạn nhỏ đã trở thành một người nữ xinh đẹp, tự tin. Câu chuyện giữa hai chúng tôi tình cờ dẫn đến một câu nói của bạn tôi. Bạn tôi nói: “Không hiểu sao ngày xưa tớ nghĩ mình xấu.” Khi nghe bạn nói câu đó, mọi chuyện chợt hiện ra rõ ràng trước mắt tôi. Cô bé trong tôi đã thực sự tha thứ cho cô bạn của nó.

Tôi tha thứ vì bây giờ tôi đã hiểu: Bạn tôi cũng chỉ là nạn nhân. Bản năng tự nhiên, nếu có, không quan trọng hơn ảnh hưởng của xã hội con người. Con gái từ bao đời nay đã phải sinh ra và lớn lên với những tiêu chuẩn thẩm mỹ nhân tạo, khắt khe, hời hợt. Những tiêu chuẩn này được truyền đạt qua phim ảnh, sách báo, ca dao tục ngữ hay nhận xét của người này người khác. Những tiểu chuẩn này được dùng để giới hạn nữ giới, còn nữ giới nhiều khi không biết lại dùng chúng để ganh đua và làm tổn thương nhau.

Bây giờ có lẽ đã quá muộn và cũng không cần thiết để nữ giới phải thay đổi. Ai thích phẫu thuật thẩm mỹ hay dùng son phấn thì hoàn toàn có quyền làm như vậy. Chỉ có điều chúng ta có thể ý thức về những ẩn ý đằng sau ngôn ngữ. Khi tôi không đánh son thì không phải là tôi đang để “mặt mộc” mà chỉ đơn giản là vì bạn đang “trang điểm” mà thôi.